Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
Trang chủ ❯ Giới thiệu ❯ Khoa  ❯ Khoa Sư phạm ❯ Chi tiết
       
  09/01/2020 10:59        

Phát triển năng lực cho học sinh THCS qua một số phương pháp dạy học môn Ngữ văn

Tóm tắt: Đối với đặc thù bộ môn Ngữ văn, việc phủ nhận triệt để những phương pháp dạy học truyền thống là điều thiếu thoả đáng. Tuy nhiên, ở phương pháp này, sự tương tác một chiều giữa thầy cô với học sinh và sự thiếu tương tác giữa học sinh với nhau trong giờ giảng đặt học sinh vào thế tiếp thu thụ động; không phát triển được tính năng động, tự tin; không chú ý đến việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn thuyết, đối thoại, tranh luận, thuyết phục. Bài viết đề cập đến một số định hướng dạy học bộ môn Ngữ văn ở trường THCS theo hướng phát triển cho học sinh các nhóm năng lực: sáng tạo, hợp tác, giao tiếp tiếng Việt, cảm thụ thẩm mỹ.
Từ khóa: Năng lực, Phương pháp dạy học, Ngữ văn.

1. Phát triển năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ sự tò mò, niềm say mê tìm hiểu khám phá.
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà môn học Ngữ văn hướng tới. Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HS trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống. Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức.
Tác phẩm văn học là sản phẩm của quá trình sáng tạo, có tính đa nghĩa. Việc cảm nhận và đánh giá một tác phẩm nghệ thuật cũng thay đổi theo thời gian và theo thị hiếu của từng người. Văn học rất cần có những cách nhìn mới, cách cảm mới để tìm ra những giá trị mới. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên và học sinh có cơ hội để bày tỏ quan điểm của mình. Đây chính là lợi thế để rèn luyện năng lực sáng tạo của học sinh .
Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu cao là HS, với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được những cách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước một vấn đề…). Học sinh có thể trình bày suy nghĩ riêng của mình, thể hiện năng lực đánh giá, phê phán một cách độc lập của mình về tác phẩm, về nhân vật.
Trong các tiết dạy văn bản truyện, giáo viên có thể phát triển năng lực này cho học sinh thông qua yêu cầu kể tiếp câu chuyện, chọn một cách kết thúc khác cho câu chuyện, nhập vai thành một nhân vật trong truyện và kể lại câu chuyện...
Ví dụ:
1. Nếu em là Thủy Tinh, em sẽ kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh như thế nào?
2. Cái chết của cô bé bán diêm khiến em đau xót, em hãy viết lại phần kết thúc của câu chuyện này.
Trong các tiết dạy bài về nghị luận xã hội, giáo viên yêu cầu học sinh trình bày ý tưởng quan điểm cá nhân trước một vấn đề đang xảy ra, còn nguyên tính thời sự.
Ví dụ:
1. Khi dạy bài “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”(Văn 9), GV có thể yêu cầu các em nói về tệ nạn xâm hại tình dục đối với trẻ em, một vấn đề đang được dư luận quan tâm.
2. Khi dạy bài “Bàn về đọc sách” ”(Văn 9), GV có thể yêu cầu các em nói về việc đọc sách ngày nay có cần thiết không khi các phương tiện nghe nhìn và đa phương tiện trở nên phổ biến và vô cùng hấp dẫn...
Với phương pháp này, giáo viên khuyến khích được học sinh tự bộc lộ mình, có cách cảm, cách nghĩ độc đáo, sáng tạo, không còn bị lối tư duy thụ động, bị áp đặt, phụ thuộc vào người khác.
2. Phát triển năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm nhỏ để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn. Khi làm việc cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ. Đây là phương pháp giúp cho HS chủ động và sáng tạo, kích thích ý thức học tập tích cực, tăng cường hứng thú thoải mái, đào sâu kiến thức, hiệu quả vững bền cho HS.
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể trong học tập và cuộc sống. Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung. Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình hội nhập.
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình. Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới.
Để phát triển năng lực này, người Giáo viên cần sử dụng phương pháp tổ chức dạy học theo nhóm. Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung. Muốn vậy, trong từng nhóm các em phải có năng lực hợp tác chặt chẽ.
Ví dụ: Khi dạy Truyện Kiều( Ngữ Văn 9), giáo viên có thể đưa ra vấn đề: Truyện Kiều nói đến nỗi đau của Kiều, nhưng hầu như không nói đến nỗi đau của Thúy Vân. Nhưng nhà thơ Trương Nam Hương khi đọc truyện Kiều lại cho rằng nàng Vân đau đớn hơn vì không bao giờ có tình yêu, và viết bài thơ Tâm sự nàng Thúy Vân. Ý kiến của các nhóm về vấn đề này? Khi GV chia nhóm theo các quan điểm đối lập, các thành viên trong nhóm phải bàn bạc, thảo luận, phân công công việc cụ thể…để có thể đưa ra được sản phẩm hoàn thiện cuối cùng.
3. Phát triển năng lực giao tiếp tiếng Việt
Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ. Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội. Năng lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào các tình huống phù hợp để đạt được mục đích.
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học. Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ ngôn ngữ trong các hoạt động giao tiếp. Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùng tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, văn học. Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống.
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.
Để hình thành và phát triển năng lực đọc – hiểu văn bản văn học cho học sinh, người giáo viên cần có “chiến lược” dạy đọc – hiểu, hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản theo mô hình thể loại, có kĩ năng xác định yếu tố biến đổi của thể loại để quá trình tiếp nhận, khám phá giá trị tác phẩm không khuôn theo những trình tự khô cứng, bất biến, nhàm chán. Làm sao để học sinh có thể đọc truyện cười khác với văn tế, thơ trữ tình khác với kịch…Chỉ khi làm chủ kĩ năng đọc, học sinh mới có năng lực đọc sáng tạo, mới trở thành “bạn đọc sáng tạo” của nhà văn, và quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học lúc đó sẽ trở thành một hành trình “chạy tiếp sức” của các thế hệ bạn đọc và của chính học sinh ấy trên con đường khám phá giá trị của tác phẩm một cách đầy đủ, sâu sắc.
Và ngược lại, văn học thông qua những áng văn đặc sắc về tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật ngôn từ sẽ tác động tích cực đến hứng thú đọc sách của học sinh, sau đọc là viết và thảo luận, trao đổi với nhau, nhờ đó các kĩ năng giao tiếp được rèn luyện và cũng nhờ đó mà các mục tiêu khác của môn Ngữ văn mới đạt được. Đó là chưa nói đến vai trò của việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp đối với các môn học khác.
4. Phát triển năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện. Như vậy, năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học. Quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình. Năng lực cảm xúc, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếp nhận tác phẩm văn chương năng lực cảm xúc được thể hiện ở những phương diện sau:
Học sinh có thể cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật.
Học sinh nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học: cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,….từ đó cảm nhận được những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm.
Học sinh có thể hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương.
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Ví dụ: Khi dạy tác phẩm “Lão Hạc”(Nam Cao) trong chương trình Ngữ văn 8, cần cho học sinh thấy được vẻ đẹp tâm hồn của lão Hạc. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn ấy chỉ được phát hiện qua lăng kính của những đôi mắt nhân hậu, bởi nếu nhìn qua đôi mắt của Binh Tư, vợ ông giáo…thì Lão Hạc cũng chỉ là tên xin bả chó, bẫy chó để kiếm ăn. Từ đó, giáo viên có thể đặt ra vấn đề cách nhìn con người của các em trong cuộc đời thật, cần phải có một trái tim nhân hậu và rộng mở khi đánh giá, phán xét con người, bởi “người chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ”.
Dạy học các tác phẩm văn học trong chương trình THCS theo định hướng phát triển năng lực của người học cần tập trung vào những nội dung: dạy đọc – hiểu; dạy học tích hợp và áp dụng các phương pháp dạy học tích cực khác như: thảo luận nhóm, đóng vai… Qua đó có thể giúp học sinh phát triển những năng lực cần thiết mà môn học hướng tới, vừa đáp ứng được những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học vừa đảm bảo tính đặc thù của bộ môn. 


Tài liệu tham khảo

 

[1] Dự thảo Chương trình tổng thể ngày 14/3/2017- Bộ Giáo dục và Đào tạo.
[2] Phạm Minh Hạc (2010), Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXB Giáo dục.
[3] Bùi Mạnh Hùng (2015), Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM.
[4] Phạm Văn Khanh (2015), Dạy học phát triển phẩm chất năng lực người học trong mối quan hệ với phát triển nhân cách, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.

 

Thu Hương - GV Khoa Sư phạm

 
Khoa Sư phạm