Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
       
  17/12/2018 20:51        

Giá trị giáo dục trong luật tục của người Raglai ở Khánh Hòa

Tóm tắt:

Tộc người Raglai trong quá trình hình thành, phát triển đã sáng tạo nên các giá trị văn hóa mang sắc thái riêng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong đó, luật tục đóng vai trò quan trọng là kho tàng tri thức dân gian phản ánh phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cách thức điều hành xã hội. Và với tính chất giáo dục, nhân đạo, dân chủ, tâm linh, luật tục được xem là công cụ để quản lý xã hội nhằm tạo nên sự thống nhất, gắn kết trong cộng đồng. Vì vậy đến nay, dù đã trải qua hàng trăm năm, luật tục vẫn tồn tại và có một vị trí nhất định trong xã hội đương đại, góp phần điều chỉnh các mối quan hệ trong đời sống của con người. Và nội dung bài viết nhằm diễn giải, nhận diện các giá trị luật tục của người Raglai ở Khánh Hòa về giáo dục trong gia đình, cộng đồng, ứng xử với môi trường tự nhiên.

Từ khóa: Giáo dục, luật tục

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, dân tộc Raglai phân bố chủ yếu ở vùng miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng núi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2009 dân tộc Raglai ở Việt Nam có tổng dân số hơn 122.245 người chiếm 0,14% tổng dân số cả nước. Raglai là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngữ hệ Malayo-Polynedi và có mối quan hệ thân thiết nhất với dân tộc Chăm. Và dù trải qua nhiều quá trình biến đổi nhưng cuộc sống của người dân Raglai chủ yếu vẫn thu hẹp trong khuôn khổ gia đình (po sàc), dòng họ (pitiaq) và làng (palơi) cho nên Raglai vẫn là một trong những tộc người giữ được nhiều bản sắc văn hóa truyền thống. Và cũng như nhiều dân tộc anh em khác, xã hội Raglai truyền thống được điều hành bởi luật tục.

Đến nay dù đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về luật tục, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu như sau: Luật tục là một trong những sản phẩm của tri thức dân gian bản địa, tập hợp các nguyên tắc phản ánh mối quan hệ, trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng nhằm hướng dẫn, điều chỉnh, điều hòa các mối quan hệ tạo nên sự thống nhất, nề nếp, sự cân bằng xã hội của cộng đồng, được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác qua truyền miệng, qua thực hành xã hội và được mọi người tự nguyện tuân theo.

Luật tục Raglai ra đời từ rất sớm trong bối cảnh xã hội sơ khai, chưa phân biệt đẳng cấp, chưa có hiện tượng người bóc lột người, các thành viên gắn bó mật thiết với nhau vì lợi ích chung của cộng đồng. Nó được cố định dưới dạng lời nói vần với những từ ngữ đơn giản, giàu chất liệu cuộc sống, gắn liền với các sự vật, sự việc nhằm mục đích dễ nhớ. Có thể nói rằng luật tục là kho tàng tri thức dân gian, là tấm gương phản chiếu văn hóa, cuộc sống của tộc người Raglai ở Khánh Hòa trên nhiều khía cạnh từ mối quan hệ giữa con người với con người, con người với môi trường tự nhiên. Và trong các tính chất của luật tục Raglai thì tính giáo dục được phản ánh rõ nét trên mọi phương diễn từ trong gia đình, ngoài đời sống xã hội đến sự ứng xử của con người với tự nhiên. Tính giáo dục trong luật tục nhằm khuyên nhủ, điều chỉnh nhận thức, hành vi con người theo hướng tích cực để xây dựng lối sống tốt đẹp, giữ thuần phong mỹ tục của ông cha.

2.  Nội dung giáo dục trong luật tục của người Raglai ở Khánh Hòa

2.1. Luật tục trong giáo dục gia đình

Thứ nhất: Trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái

Luật tục Raglai quy định rất rõ trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Cha mẹ không chỉ là người sinh ra mà còn có trách nhiệm nuôi nấng các con trưởng thành, dạy bảo các con sống phải biết anh em, biết ông bà tổ tiên, biết kính trọng người già, biết yêu thương con trẻ, sống thân thiết với bạn bè đồng trang lứa, biết quí trọng tình cảm xóm làng. Đồng thời cha mẹ còn phải khuyên nhủ con cái sống phù hợp với thuần phong, mỹ tục của cha ông, biết tránh những điều kiêng cự, điều cấm của cộng đồng: “Cha mẹ bổ đầu sinh đẻ con ra, có mắt mặt có con nối dõi/Phải biết dưỡng nuôi, dạy dỗ theo khuôn phép/Phải dạy cho con biết tổ, biết tông/Phải dạy cho con biết bà, biết ông/Phải dạy cho con biết cái luật, cái lý khuôn phép, biết phong tục xưa của ông bà…Biết quấn quýt yêu thương trẻ em, người cùng trang lứa/Phải dạy cho chúng biết trọng, biết nể xóm làng/Biết quý trọng nâng niu tình làng, nghĩa xóm” [4, tr.480]

Và nếu như người Việt có câu “dạy con từ thuở còn thơ” thì luật tục Raglai cũng hàm chứa điều này. Các ông bố bà mẹ phải giáo dục con cái từ thuở bé: “Không uốn nắn, kéo cho thẳng khi nó còn mụt măng/Để nó thành cây tre, cây le rồi không sao uốn cho thẳng được nữa” [4, tr.480]. Có thể nói rằng dẫu thời gian luôn vận động, văn hóa nuôi dạy con cái đã có ít nhiều biến đổi nhưng lời khuyên bảo của ông bà dạy con từ thuở còn thơ bé vẫn luôn có giá trị. Bởi con người cũng như cành cây khi còn nhỏ, còn non thì dễ uốn nắn, dạy bảo nhưng khi đã lớn muốn bày nhủ, khuyên răn là vô cùng khó thẫm chí là phản tác dụng bởi tính cách, cái nết con người đã được định hình.

Luật tục không chỉ nêu trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ là giáo dục con cái mà còn qui định cụ thể các hình phạt, phải gánh tội thay nếu con làm những việc xấu. Con cái ăn cắp, làm đổ bể, hư hao tài sản của người khác thì cha mẹ phải đền gấp rưỡi, gấp đôi. Nếu con cái chửi bới thô tục xúc phạm và làm mất thanh danh người khác thì bố mẹ phải phạt lỗi hai con gà, một ché rượu. Và nếu tội con lớn hơn như đánh đập người khác gây thương tích, hoảng sợ thì đấng sinh thành phải chữa lành vết thương cho người bị hại và chịu phạt lỗi tạ tội một con heo từ ba tới năm gang tay, hai con gà, một ché rượu, một xấp vải trắng để làm lễ cúng cầu hồn người bị hại trở về với thân thể họ. Qua các qui định bố mẹ phải chịu phạt thay con mà luật tục nêu ra nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm giáo dục, nuôi dạy con cái của cha mẹ để con trở thành người tốt, có ích cho cộng đồng. Trong trường hợp bố mẹ không làm gương, không dạy con biết điều hay lẽ phải mà xúi giục con cái làm những việc xấu xa, bậy bạ như bôi nhọ xóm làng, ăn cắp, phá hoại tài sản người khác thì bị cộng đồng lên án mạnh mẽ hơn và phải chịu phạt, bồi thường gấp đôi tài sản lấy về. Điều này cũng nhằm mục đích khuyên răn các bậc cha mẹ phải giáo dục con trẻ trở thành những người tốt “… để nó làm lành cái bụng cái gan, cho chừa thói quen để trở thành người tốt”.

Thứ hai: Ứng xử của con cháu với cha mẹ, ông bà

Cha mẹ là người sinh thành, chăm bẵm con cái khôn lớn trưởng thành nên phận làm con cháu phải kính yêu, có trách nhiệm nuôi dưỡng đấng sinh thành. Do đó trong nội dung luật tục của các dân tộc hay trong ca dao, tục ngữ của người Việt ta dễ dàng tìm thấy lời khuyên nhủ mọi người hãy luôn nhớ ghi công lao của cha mẹ để đền đáp, báo hiểu cho trọn đạo làm con: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Và luật tục Raglai cũng không phải là ngoại lễ, nội dụng luật tục khuyên bảo con cháu dù đi đâu, ở đâu cũng luôn nhớ về gia đình, cha mẹ và những người thân yêu: “Luôn nhớ tới người cha, luôn nhớ về người mẹ/Luôn nhớ tới em, luôn nhớ tới anh”. Luật tục nhắc tới công lao trời biển của cha mẹ, cha mẹ cho con hình hài và chịu mọi vất vả, chịu đói, chịu cực khổ nuôi con lớn khôn. Những lúc con ốm đau, cha mẹ ở bên lo từng miếng ăn, từng giọt nước uống, vỗ về giấc ngủ, lúc con mang tội với xóm làng, cộng đồng thì cha mẹ là người đứng ra chịu phạt, đền hiện vật cho người bị hại. Nên con cái phải luôn ghi nhớ công sinh thành, dưỡng dục, thấu hiểu sự vất vả hy sinh của mẹ cha:“Mẹ cha đã sinh đẻ ra nó/Mẹ cha đã nuôi nấng dạy dỗ nó lớn khôn/Công lao mẹ nó chăm bẵm gùi địu nặng lưng/Cha nó chạy đi chạy về ngã té sưng người sưng chân/Nó làm cãi, làm phản, làm lì, làm tịt cha mẹ nó lo/Nó đau bệnh, cha mẹ nó lo nấu nước nóng, nước ấm, lo cháo cơm trái chuối cho con/Cha mẹ nó chịu đựng khó khăn/Cha mẹ chịu đựng cực khổ, chịu nhọc nhằn…Để cho nó được ấm được no” [4, tr.491]. Vì vậy, con cái phải vâng lời, phải có trách nhiệm, bổn phận dưỡng nuôi, chăm sóc cha mẹ: “Làm con phải gọi dạ, bảo vâng, ăn lời mẹ cha/Phải có bổn phận chăm sóc, dưỡng nuôi mẹ cha, phải canh bưng, cơm dọn/Chăm lo, phụng dưỡng mẹ cha mới là con” [4, tr.485]

Đối với những người con hư không vâng lời cha mẹ, bỏ mặc cha mẹ đi ở làng khác thì cha mẹ có mọi quyền trong khuyên nhủ, giáo dục có thể bằng lời nói hay bằng hành động để người con thấm lời răn dạy, thấu hiểu đạo lý làm con và khi biết nhận lỗi, thấy được cái sai thì được mẹ cha, cộng đồng tha thứ. Ngược lại những người con không nhận ra lỗi lầm, quên ơn đấng sinh thành, bỏ mặc không chăm sóc cha mẹ lúc ốm đau già yếu, không biết thương, không động lòng khi ông bà, cha mẹ tuổi xế chiều vẫn phải lao động vất vả thì bị xã hội lên án gay gắt, coi đó là những người con quá tệ bạc, tàn nhẫn với mẹ cha. Đồng thời luật tục cũng quy định những hình phạt hết sức thích đáng cho những kẻ vô đạo, bất hiếu trong xã hội. Những người đó phải lo hai con heo, hai con gà, một ché rượu cần để tạ tội với cha mẹ, ông bà và tạ lỗi cho làng, cho người phân xử. Ngoài ra còn phải lo áo quần, khăn choàng để làm lễ đền đáp ơn nghĩa mẹ cha. Sau khi người con thực hiện các nghi lễ tạ tội với mẹ cha, biết ăn năn, hối lỗi, biết sửa đổi thì được mẹ cha tha thứ, cộng đồng chấp nhận. Nhưng có những trường hợp không tuân theo sự xử phạt của dân làng thì không được thừa hưởng bất cứ tài sản gì của cha mẹ: “Nó không xứng đáng lấy một cọng tranh/Một cái dao cùn, cái rựa gãy cán nào cả”. Như vậy, để giáo dục, khuyên răn con cháu phải có tình thương, trách nhiệm với cha mẹ, luật tục Raglai đã xem bất hiếu là một tội rất nặng và bị xử phạt nghiêm minh.

Thứ ba: Ứng xử vợ chồng

Vợ chồng đến với nhau bằng tình yêu thương đôi lứa không ai nài ép, bắt buộc cho nên khi về chung một nhà, hai người cần có trách nhiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, ấm êm, nói với nhau bằng những lời dễ nghe, sẻ chia mọi chuyện trong cuộc sống để cảm thông và thấu hiểu. Luật tục qui định người vợ không được phép có những hành vi thiếu tôn trọng chồng như “Khi đang cãi nhau với chồng, người vợ không được phép lấy váy áo đập lên đầu chồng”. Đây là sự xúc phạm nặng nề tới lòng tự tôn của người đàn ông, có thể làm tan cửa nát nhà nếu người chồng bỏ đi, vì vậy hành động này của người vợ bị cộng đồng lên án. Đồng thời luật tục cũng qui định rõ trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình. Người chồng phải chăm lo lao động, coi sóc nương rẫy, săn bắn thú rừng về cho vợ con, cùng vợ bảo ban nuôi dạy con cái nên người. Luật tục còn giáo dục, khuyên răn vợ chồng hòa thuận, chăm sóc, quan tâm lo lắng cho nhau bằng tình yêu thương chân thành, gắn bó với nhau hết cả cuộc đời, không được vì khó khăn vất vả mà ruồng bỏ nhau: “Phải trông nom lo lắng cho nhau khi bệnh đau nhức mỏi/Phải trông nom lo lắng cho nhau khi ngặt lúc đói, không được vứt bỏ nhau” [4, tr.538]. Và việc khuyên bảo vợ chồng phải yêu thương, quý trọng nhau, sống với nhau trọn nghĩa trọn tình cũng được thể hiện rất rõ trong luật tục của nhiều tộc người khác như theo luật tục Êđê “Đã lấy vợ thì phải ở với vợ cho đến chết, đã cầm cần mời rượu thì phải vào cuộc cho đến khi rượu nhạt, đã đánh cồng thì phải đánh cho đến khi người ta giữ tay lại

Và để nâng cao hiệu quả, luật tục Raglai đã đưa ra các hình thức xử phạt, bắt tội rất cụ thể. Nếu người chồng bỏ vợ bỏ con đi nơi khác thì mẹ cha, anh em nhà chồng phải có trách nhiệm ngăn cấm, khuyên răn, dạy bảo, phải bắt phạt để người chồng thấy được lỗi sai mà ở nhà gánh vác công việc, chăm sóc vợ con. Nhưng nếu người chồng không hồi tâm chuyển ý, không chịu trở về thì “…Làng phạt bắt phải ở tại nhà, phải chịu phạt lỗi gấp hai”. Hoặc trong trường hợp người chồng đi đâu lâu năm không ai biết thì “Gia đình bên cha mẹ nó/Anh chị em bên gia đình nó phải tìm …/ Mà đưa nó trở về”. Nếu kiếm tìm không được thì người vợ có quyền bắt lỗi gia đình bên chồng “…Đòi trả lại đồ cưới gấp đôi, bắt lỗi nhà chồng phải chịu nuôi nấng, dạy dỗ con cái cho đến khi chúng lớn khôn”. Không chỉ có thế, với người đàn ông bỏ vợ, bỏ con đi biệt xứ thì bên nhà chồng còn phải nộp của phạt lỗi gồm: “Một đồng tiền xưa, một ché rượu hoặc một chai rượu trắng, trứng gà và cây đèn sáp ong” để dân làng phân xử. Và sau đó người vợ có quyền được ưng người con trai khác và được bắt chồng mới mà không ai có quyền được ngăn cản, cấm đoán cho dù người chồng cũ có trở về. Những qui định này được đưa ra và thực thi nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ bởi trong xã hội truyền thống cơ hội để người phụ nữ xây dựng cuộc sống mới với người đàn ông khác sau khi chồng bỏ đi là rất ít.

Luật tục cũng khuyên nhủ những người có gia đình, đã là vợ chồng cần có sự sẻ chia để thấu hiểu, không ghen tuông vô cớ để nói những lời khó nghe, bậy bạ làm không khí gia đình nặng nề thẫm chí là dẫn đến chia ly. Và nếu trường hợp này xẩy ra cũng sẽ bị phạt lỗi:“Đa nghi ghen tuông vô cớ/Cố ý kết tội vợ mình chồng người, vợ người chồng bạn/Kết luận bậy bạ, nói vu nói vạ… thì phạt lỗi [4, tr.541].Đồng thời dân làng sẽ triệu tập một cuộc xử việc, nhất thiết phải có mặt cha, mẹ, cậu, chú, ông mai chính, ông mai phụ để khuyên nhủ, làm sáng tỏ mọi điều để vợ chồng hòa giải, tha thứ cho nhau, đồng thời có ý răn đe kẻ đã vu khống cho người khác. Mặt khác, hai vợ chồng phải có trách nhiệm bảo ban, nuôi dạy con cái nên người, cùng nhau lao động xây dựng cuộc sống ấm no, gia đình thuận hòa và ở với nhau trọn nghĩa vợ chồng. Vì vậy luật tục qui định rất rõ, nếu một trong hai người quyết định việc chấm dứt cuộc hôn nhân thì người đó bị phạt và mất rất nhiều quyền lợi. Nếu người chồng bỏ vợ thì coi như của đổ sông, đổ bể bởi anh ta chỉ được ra khỏi nhà với vài vật dụng cá nhân mà không nhận được sự đền bù nào về của cải lễ vật trong lễ hỏi, lễ trao vòng, lễ cưới, cũng không được chia tài sản do công sức của mình làm ra từ ngày xây dựng gia đình và tất cả đều thuộc về nhà vợ. Trong trường hợp nếu người vợ bỏ chồng thì phải chịu phạt đền bù cho chồng hai mặt mã la, một con heo sáu gang tay, sáu con gà và người chồng có quyền được nuôi các con. Luật tục đưa ra cách xử phạt rất nặng đối với người bỏ vợ hoặc chồng nhằm mục đích giáo dục, khuyên răn vợ chồng phải yêu thương nhau, không để hôn nhân đổ vỡ. 

Nếu một trong hai người thay lòng đổi dạ, có mối quan hệ bất chính với người khác sẽ bị cộng đồng lên án gay gắt. Bởi đây được xem là sự ô uế, dơ bẩn, xúc phạm tới tổ tiên ông bà, các vị thần linh: “Vợ người ta, chồng người ta/Tròng lên đầu người thân sự dơ bẩn, ô uế gớm ghiếc đến nôn ọe trên đầu thần linh/Phải chịu phạt tạ tội vì đã làm lật đầu thần tài, đổ đầu thần giỏi/Báo hại sẽ vướng điều bất hạnh bởi các việc đó”[4, tr.549]. Vì vậy luật tục đưa ra các hình thức xử phạt rất nghiêm minh việc ngoại tình và mức xử phạt rất cao. Nếu người vợ ngoại tình thì phải chịu phạt một mã la, một con trâu cho chồng và gia đình chồng. Trong trường hợp người chồng ngoại tình thì chịu phạt một mặt mã la, một con trâu cho vợ, phải chịu một con heo sáu gang tay, một ché rượu cần tạ tội bên nhà vợ. Như vậy, nội dung luật tục phản ánh rất rõ mối quan hệ vợ chồng, giáo dục, khuyên nhủ người làm chồng, làm vợ phải làm tròn bổn phận, sống trọn đạo vợ chồng.

2.2.  Giáo dục hành vi ứng xử

Thứ nhất: Ứng xử với cộng đồng

Tiếng nói là phương tiễn để chúng ta giao tiếp hàng ngày, nó phản ánh một phần bản chất, tính cách, văn hóa của con người. Cho nên luật tục giáo dục, khuyên bảo mọi người phải nói những điều hay, không được nói năng bậy bạ, châm chọc, xúc phạm người khác, phải biết kiềm chế cảm xúc của bản thân những khi nóng giận để không văng lời thô tục:“Hãy nói điều lành, dạy chuyện tốt cho nhau/Thì mới cùng nhau thấu tỏ mọi điều/Nói mà như quát thét ra lửa/Nói như người ta bằm xương, róc tủy ra phơi nắng/Chỉ làm cho gan thâm ngực trắng mà chẳng hiểu được gì…Nói trước phải lường sau/Nói cho người phải ngẫm lại mình/Nói châm chọc thì chuyện đó đập ngay tại mặt”[4, tr.469]

Như vậy luật tục đã chỉ rõ, con người nên nói với nhau những lời dễ nghe, nhẹ nhàng có như thế mới dạy chuyện tốt cho nhau, mới giải quyết được mọi chuyện. Ngược lại nói những lời khó nghe, tục tĩu, như thét, như quát thì càng làm cho mọi chuyện thêm rối bời. Mặt khác, phải nghĩ trước nói sau, nói năng phải lường trước mọi việc, nói người phải ngẫm đến ta để không vu vạ, để tránh nói những điều làm tổn thương người khác.

Và trong xã hội, người già luôn được kính trọng, nếu như người Việt có câu tục ngữ “Kính lão đắc thọ” hay “Kính già, già để tuổi cho” thì đối với dân tộc Raglai, điều này còn được đưa vào luật tục để qui định, giáo dục chuẩn mực ứng xử của mọi người đối với người lớn tuổi trong cộng đồng: “Người lớn gặp phải nể trọng/ Người già nói phải nể”. Nếu người trẻ tuổi cãi lại, hơn thua với người già, xúc phạm đến người già sẽ bị báo ứng “Cái lẽ có từ cổ, cái lý có từ xưa/ Hơn thua với người già sẽ bị trụi lông”. Bởi người già luôn được xem là kho tàng tri thức với những kinh nghiệm sống quý báu, là người am hiểu các phong tục, tập quán, thuần phong mỹ tục của cộng đồng để truyền lại cho con cháu đời sau nên rất được mọi người kính trọng.

Đồng thời, trong hành vi ứng xử, dân tộc Raglai có những điều kiêng kị được đưa vào luật tục để nhắc nhở mọi người không mắc phải sai phạm như cấm vỗ vai, vịn vai đàn ông, người già. Bởi theo quan niệm, mỗi người có ba hồn và vai là một trong những nơi thần hồn trú ngụ, những ai không phải người ruột thịt, người trẻ tuổi hơn, đàn bà con gái mà vịn vai, bá cổ sẽ làm bay hồn bạt vía người ta:“Vỗ vai vịn vai/ Đàn bà con gái đập vào vai đàn ông không phải là vợ chồngTrẻ nhỏ không phải là con cháu vỗ vai người giàLà làm lung lay thần hồn, suy sụp thần tài, bay hồn bạt vía” [4, tr.558]. Đây là những hành vi tối thiểu mà mọi người phải tuân theo để tránh vi phạm trong giao tiếp, ứng xử. 

Mặt khác những qui định đối với người phụ nữ trong hôn nhân, giao tiếp, hành vi ứng xử cũng tương đối khắt khe và được đưa vào luật tục để giáo dục, khuyên răn đàn bà, con gái. Trong tình yêu, con trai là người chủ động “Con trâu đi tìm sình lầy, không bao giờ sình lầy đi tìm trâu”, nếu con gái là người chủ động sẽ bị lên án, bị coi là hư thân, mất nết. Người con gái trong xã hội truyền thống của dân tộc Raglai phải siêng năng chăm chỉ, phải thùy mị kín đáo “Cười mủm mỉm, giỏi tay làm ăn” mới được xem là người tốt nết, được cộng đồng đề cao và ngược lại sẽ bị mọi người cười chê. Trong xã hội hiện nay, những quan niệm trói buộc người phụ nữ đã được cởi bỏ dần, họ có thể chủ động trong tình yêu, được học hành, lập nghiệp.

Bên cạnh đó, luật tục còn quy định rõ vị trí ngồi, tư thế ngồi của đàn bà con gái: “Đàn ông hàng trên, đàn bà hàng dướiĐàn ông ngồi xếp bằng, đàn bà ngồi bó gối”. Đồng thời đàn bà con gái không được ngồi, thẫm chí là không được đi qua nơi đầu sạp, đầu chiếu, đầu thềm… đó là nơi nằm của đàn ông, người già. Nếu đàn bà con gái đi qua hay ngồi lên đó sẽ làm “sụt thần hồn, bạt thần tài”, nguy hiểm tới tính mạng của người nằm. Do đó, những người phụ nữ Raglai được giáo dục rất kỹ về điều này, phải có ý tứ từ việc chọn lời nói, chọn chỗ ngồi, nơi nằm, lối đi:“Nhảy phải nhìn chân, nói hãy chọn lời/ Ngồi phải xem chỗ, ngủ phải xem đầu sạp/ Dựng phải xem đuôi, ra vào phải xem lối/ Đặt đít ngồi phải xem chỗ, ở phải xem nơi” [4, tr.475].

Không những thế, luật tục của người Raglai còn có giá trị rất lớn trong việc giáo dục con người sống cần có lòng khoan dung, đỗ lượng, biết thứ tha cho lỗi lầm của người khác. Vì thế nội dung luật tục lên án và đưa ra các hình thức xử phạt hợp tình hợp lý đối với từng tội và linh hoạt trong từng hoàn cảnh gia đình để răn đe và buộc mọi người tuân thủ luật lệ của cộng đồng. Hay luật tục cũng qui định, đối với những người phạm tội dù lớn, dù nhỏ nhưng họ đã chịu phạt, đã biết ăn năn hối cải thì mọi người trong gia đình, họ hàng vẫn phải thương yêu họ, cộng đồng không còn được lên án hay bới móc chuyện đã qua. Nhìn chung đây cũng là điều được thể hiện rất rõ trong luật tục của các tộc người, bởi mục đích của luật tục là lấy sự khoan dung, giải hòa làm trọng. Tuy nhiên, nếu so sánh luật tục Raglai với luật tục của các tộc người khác như luật tục Thái trong việc xử phạt các tội thì thường luật tục Raglai có mức xử phạt nhẹ hơn. Ví như cùng là tội ăn cắp, luật tục Thái qui định người ăn cắp lấy một phải trả gấp ba và bị bản mường bắt nộp phạt thêm 1,2 lạng bạc, còn luật tục Raglai chỉ bắt người ăn cắp đền gấp đôi. Điều này chứng tỏ tính giáo dục, khuyên răn, giải hòa trong luật tục Raglai rất lớn và nó cũng thể hiện sự khoan dung, nhân đạo của cả cộng đồng. Và luật tục còn giáo dục con người sống có tình có nghĩa, sẵn sàng giúp đỡ những người khó khăn, hoạn nạn:“Gặp người đau ốm, dìu cõng nhau về nhà/ Gặp người kẹt lũ lụt, dìu đỡ người qua sông/ Sống dựa nhau hết lòngHơn tìm đá mà dựa, tìm thác mà nương thân” [4, tr.561], điều này cũng phản ánh tinh thần tương thân tương ái của người Việt Nam nói chung.

Như vậy tất cả những điều mà luật tục đề ra đều nhằm mục đích giáo dục cộng đồng thực hiện các chuẩn mực trong hành vi ứng xử, trong lời ăn tiếng nói, khuyên bảo mọi người sống cần có tâm, biết yêu thương, giúp đỡ người khác để cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thứ hai: Ứng xử với môi trường tự nhiên

Giữa môi trường tự nhiên và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó môi trường tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành nên các mô hình văn hóa khác nhau. Do đó các tộc người sinh sống trong cùng điều kiện tự nhiên thường có sự tương đồng về văn hóa như hoạt động kinh tế, cách thức khai thác, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phương tiện vận chuyển, tín ngưỡng… Ví như các tộc người cư trú ở vùng cao, trong đó có tộc người Raglai gắn bó với núi rừng qua bao đời thì điều kiện cơ sở kinh tế nương rẫy đã qui định đời sống xã hội, văn hóa của tộc người và luôn có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên rừng núi - kế sinh nhai của cộng đồng. Nên họ đã đặt ra những qui định cụ thể về đất rừng, đất được khai phá, cách thức trồng trỉa, khai thác lâm sản, hoạt động săn bắn thú rừng, bảo vệ nguồn nước, các nghi lễ, tập tục liên quan tới việc làm nương rẫy… tất cả được phản ánh một cách sinh động trong luật tục.

Từ lâu, tộc người Raglai luôn coi rừng là nguồn sống của buôn làng cho nên việc giáo dục mọi người có ý thức bảo vệ rừng, không được làm cháy rừng rất được quan tâm. Trong luật tục có những quy định bắt buộc mọi người phải nghiêm túc tuân theo như phải dọn sạch, phát quang quanh rẫy của mình để có một khoảng cách an toàn nhất định trước khi dùng lửa nhằm tránh trường hợp lửa bén lây lan dẫn đến cháy rừng. Đồng thời mọi người chỉ được đốt nương vào những ngày lặng gió bởi nếu gió to, lửa có thể theo ngọn gió làm cháy rừng. Và theo quan niệm của người Raglai, việc làm cháy rừng không chỉ làm mất đi tài nguyên của cả cộng đồng mà còn có tội với thần linh nên bị phạt rất nặng “Nghiêm cấm làm lửa cháy bàn thờ thần núi rừng/ Tế lễ tạ tội thần chúa núi, chúa đất đai làng mạc, đất đai xứ sở”. Lễ phạt để tế lễ tạ tội thần núi, đất đai đối với người gây ra cháy rừng là một con heo bốn tới năm gang tay, ba con gà và một đến ba ché rượu cần.

Đối với tộc người Raglai nói riêng và các tộc người sinh sống ở miền núi nói chung, rừng được xem là nguồn sống, là kế sinh nhai của cả cộng đồng. Vì vậy các qui định đặt ra trong khai thác, bảo vệ tài nguyên rừng rất cụ thể và luôn chiếm một dung lượng nhất định trong nội dung luật tục của các tộc người (luật tục Mường có qui định rõ về thời gian được phép thu hoạch măng tre là bắt đầu từ ngày 20/6 âm lịch hàng năm. Nên trước ngày này ai bẻ măng trong rừng hay kể cả trong các gồ bương tre trong vườn do chính tay mình trồng và thả rông gia súc vào rừng giẫm đạp làm gãy măng, nếu bị phát hiện thì gia đình đó phải nộp phạt cho mường một con lợn nái). Không những thế để nâng cao hiệu quả, các luật tục còn phân rừng ra từng loại khác nhau và qui định rừng nào được khai thác, rừng nào bị cấm, nơi nào được làm nhà, phát rẫy, nơi nào không. Tất cả những điều này cũng được phản ánh rõ trong luật tục của người Raglai ở Khánh Hòa. Theo luật tục, rừng phòng hộ ở đầu núi, chân làng, núi cao rừng cổ thụ, những vùng núi, quả đồi có gắn với các sự tích, truyền thuyết kể về sự linh thiêng… thì nghiêm cấm không được khai thác:“Đỉnh núi chân rừng, đầu núi chân làng, núi to bãi hoangLà nơi trú ngụ của thần linh - thần chúa rừng cây, rừng ngàn nguyên thủyNúi cao rừng cổ thụ, đất màu mỡKhông được vào làm nhà, chỗ ở…Không được phá làm nương phát rẫy/ Không được chặt phá tàn hại nơi đầu núi rừng cây tại nơi này” [4, tr.704]

Cũng như các tộc người khác, tộc người Ragal cũng có quan niệm “Vạn vật hữu linh, tín ngưỡng đa thần” tức mọi hiện tượng xã hội, tự nhiên đều liên quan đến linh hồn hay thần linh nào đó nên mọi vật đều có thần cai quản. Do dó không chỉ khoanh vùng những khu vực không được khai thác mà luật tục còn qui định những cây to, cây lắm cành, nhiều tuổi cũng cấm chặt phá bởi đó là nơi trú ngụ của các thần linh:“Cây to nơi đầu núi, đỉnh đồi/ Nơi nguồn nước, ngăn giữ đập nước/ Như cây da cổ thụ là cây da thần, dây trái tràm, cây sung thần…Không được chặt phá, không được làm rẫy, không được làm nhà ở nơi đây” [4, tr.702]. Và niềm tin này đã ăn sâu vào tâm thức của đồng bào nên mọi người rất tôn trọng các qui định được đặt ra trong luật tục và cố gắng bảo vệ rừng như bảo vệ nguồn sống của cộng đồng. Nên không chỉ khi có việc lớn như đào huyệt, tìm cây làm quan tài cho người mất… mà ngay cả trong sinh hoạt thường ngày, nếu gia đình cần một cây gỗ nào đó họ cũng bày lễ vật cúng xin thần xong mới dám chặt hạ. Nếu ai chặt phá những khu vực, những cây cấm khai thác sẽ bị phạt rất nặng bởi điều đó không chỉ hủy hoại tài nguyên của cả cộng đồng, ảnh hưởng tới môi trường sống mà còn xúc phạm, xem thường các vị thần linh. Vật lễ cúng xin tạ tội các thần bao gồm một con heo ba gang tay, sáu con gà và ba ché rượu cần.

Như vậy, cách thức bảo vệ rừng của người Raglai không đơn thuần là giáo dục ý thức của mọi người mà còn gắn với tâm linh. Và quan niệm này có ý nghĩa khá tích cực bởi nó làm cho việc thượng tôn luật tục được đẩy lên cao hơn. Vì vậy các cánh rừng ngày trước luôn xanh mướt lá, rừng đầu nguồn, rừng thiêng dường như không ai dám phi sơ. Ngày nay, hầu hết những khu rừng giàu, rừng trung bình đều được quy hoạch thành các khu bảo tồn và vườn quốc gia do nhà nước quản lý nên những khu vực này người dân không được tiếp cận, khai thác để mưu sinh. Do đó người dân Raglai chỉ được làm nương rẫy, săn bắn, hái lượm ở những khu rừng cho phép, họ trồng keo, trồng mía trên đất của mình. Bên cạnh đó, nhiều gia đình Raglai do đã bán hết đất nên chỉ trông chờ vào việc làm thuê kiếm sống qua bữa hay đi làm công nhân ở xa. Nhưng một thực tế đang diễn ra là nhiều cánh rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng giàu trước đây bị tàn phá không thương tiếc. Do đó nếu chúng ta biết kết hợp giữa phong tục, tập quán, luật tục với Luật Bảo vệ và phát triển rừng của Nhà nước một cách khéo léo để bảo vệ rừng ở từng cơ sở (như giao quyền hay kết hợp với buôn làng trong bảo vệ rừng) thì kết quả việc quản lý, bảo vệ rừng chắc chắn sẽ tốt hơn rất nhiều.

Trong quá trình khai thác nguồn lợi của rừng, tộc người Raglai không chỉ sử dụng đất đai, cây gỗ mà còn có cả vô vàn thú rừng nên luật tục Raglai cũng đưa ra các qui định nhằm bảo vệ chúng. Theo luật tục, con người không được phép săn bắn quá mức mà để cho thú rừng còn tiếp tục sinh sôi, phát triển, phải để cho thế hệ con cháu mai sau có nguồn sinh sống. Nếu ai cố tình vi phạm sẽ bị báo ứng, sẽ gặp hiểm họa “Cấm săn bắn quá nhiều thú/ Gặp xui xẻo, gặp báo hại hiểm họa cho khỉ đột cắn, té trượt sát thương, trọng thương mà chết”. Bên cạnh đó, luật tục còn quy định không được săn bắn và mang về nhà làm thịt một số loài như khỉ, dộc, vượn, khỉ đột, chuột, ếch, nhái bởi nếu vi phạm con người sẽ bị bệnh tật, ghẻ lở, bắp lúa cháy khô. Và cùng với luật tục, dân tộc Raglai còn lưu truyền các sự tích nhằm giáo dục, nhắc nhở, răn đe con người không được vi phạm những điều được luật tục đưa ra.

Đồng thời vấn đề bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái cũng được đề cập tới trong luật tục nhằm giáo dục mọi người có ý thức bảo vệ nguồn nước chung, môi sinh của cộng đồng. Luật tục chỉ rõ không được làm nhà, cấm đại tiện, tiểu tiện nơi có nguồn nước: “Cấm làm nhà nơi nguồn nước, nơi có mạch nước ngầm, mạch nước phun/ Cấm ỉa đái làm ngập hầm cua hang cá lóc/ Nhang đất bờ hồ ao sẽ khiến cho con người bị phù thũng, to bụng, ỉa chảy như tháo, ỉa ra máu, người bủng beo”[4, tr.706]. Bên cạnh đó, luật tục còn quy định chỉ được dựng nhà một phía và dùng nước uống một phía trên một con sông, một dòng suối nếu uống nước cả hai bên sông là tranh nước uống với ông bà, tổ tiên nên sẽ bị ông bà trừng phạt, gặp tại họa trong cuộc sống: “Dùng nước uống trên một con sông, một dòng suối, một hồ nước sạch/ Phải dùng một phía, nhà ở cũng một phía/ Đi chôn người chết không được qua sông, qua suối, vượt qua nhà, vượt qua làng, qua rẫy, qua nương” [4, tr.707]. Bao đời nay những điều răn dạy của cha ông đã đi vào đời sống vào tâm thức mỗi người một cách tự nguyện, được cộng đồng tôn trọng và đã trở thành tập quán của dân tộc. Bởi mỗi người đều có lòng tin vào sự linh thiêng của thế giới thần linh khiến không ai dám vi phạm, không ai muốn cộng đồng lên án và gặp phải những điều tai ương trong cuộc sống.

3. Kết luận

Cũng như luật tục của các dân tộc anh em, luật tục Raglai đã cung cấp cho người đọc bức tranh văn hóa tộc người độc đáo và đa dạng, xứng đáng là kho tàng di sản văn hóa của tộc người. Bởi nó đã phản ánh rõ nét, chân thực mọi mặt đời sống xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lối sống của tộc người Raglai ở Khánh Hòa. Và hơn nữa luật tục còn có giá trị to lớn trong giáo dục đạo đức, hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ đời sống xã hội và môi trường tự nhiên. Nó góp phần quan trọng điều chỉnh hành vi, điều hòa các mối quan hệ, răn đe, ngăn chặn những điều xấu nhằm hướng tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, giữ gìn các giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của cha ông và góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hiệu quả. Vì vậy, hàng trăm năm đã đi qua nhưng luật tục vẫn có sức sống bền bỉ, nhiều điều răn dạy của ông cha vẫn nằm trong tâm thức của con cháu các thế hệ để tiếp tục xây dựng một cộng đồng tốt đẹp hơn, ấm no hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Quốc Anh (2007), Văn hóa Raglai những gì còn lại, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

2. Phan Quốc Anh (2010), Văn hóa Raglai, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Nguyễn Hữu Bài, Trần Kiêm Hoàng, Lê Văn Hoa, Trần Vũ, Chamaliaq Riya Tiẻng (2014), Văn hóa dân gian Raglai ở Khánh Hòa, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.

4. Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thế Sang (2012), Luật tục Chăm và luật tục Raglai, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

                                                                                                                                        Nguyễn Thị Nga

 

 

 
Tổng quan