Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
       
  20/12/2018 20:17        

Biến đổi trong nghi lễ cưới hỏi của người Êđê ở Khánh Hòa

   Tóm tắt

Nghi lễ cưới hỏi là một thành tố của văn hóa, phản ánh rõ nét đặc trưng văn hóa tộc người với những nghi thức, phong tục, tập quán, quan niệm… mang bản sắc riêng. Tuy nhiên, bản thân văn hóa có tính động nên nó cũng “ứng vạn biến” trước những thay đổi của xã hội. Vì vậy, như bao dân tộc anh em khác, nghi lễ cưới hỏi của đồng bào Êđê ở Khánh Hòa cũng đã và đang có những biến đổi nhất định vừa mang tính tích cực, phù hợp thời đại nhưng cũng phần nào làm mờ nhạt một số đặc trưng văn hóa riêng có của dân tộc mình.

Từ khóa: Biến đổi, nghi lễ cưới hỏi, người Êđê

1.     Đặt vấn đề

Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục Thống kê, có hơn 3.396 người Êđê cư trú ở Khánh Hòa, sếp sau dân tộc Kinh, Raglai, Cơ - ho trong 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn. Dân tộc Êđê có nhiều giá trị văn hóa đặc sắc góp phần quan trọng cùng các dân tộc anh em khác dệt nên bức tranh văn hóa đa thanh, đa sắc, đa vị, đa hương của Khánh Hòa nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.Trong đó, nghi lễ cưới hỏi với nhiều gam màu độc đáo thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa Êđê, đặc biệt là phản ánh chế độ mẫu quyền của đồng bào nhưng đang “chuyển mình” nhanh chóng theo bước đi của thời gian. Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết, tác giả nêu lên một số biến đổi quan trọng trong nghi lễ cưới hỏi của đồng bào Êđê tại Khánh Hòa. Qua đây, chúng ta có thể thấy được nguyên nhân cũng như ảnh hưởng của sự biến đổi tới sắc màu văn hóa Êđê.

2. Nội dung

2.1.  Nghi lễ cưới hỏi truyền thống

Nghi lễ cưới hỏi của đồng bào Êđê có nhiều đặc trưng riêng, phản ánh rõ nét chế độ mẫu hệ và là một trong những nghi lễ quan trọng thuộc hệ thống nghi lễ vòng đời, diễn ra trước sự chứng kiến của gia đình, dòng họ, cộng đồng. Nghi lễ cưới hỏi truyền thống của đồng bào Êđê tuần tự trải qua các bước lễ hỏi chồng (lễ đưa vòng), lễ thỏa thuận, tục gửi dâu, lễ cưới và cuối cùng là lễ lại mặt.

Lễ hỏi chồng

Theo tập tục, con gái Êđê khoảng tầm 16 tuổi được tự do tìm hiểu các chàng trai trong buôn hay ngoài buôn để lựa chọn người chồng tương lai của mình. Và khi tìm được chàng trai ưng ý, trải qua quá trình tìm hiểu nhau, cô gái sẽ báo với cha mẹ và dòng họ. Nếu không có sự ngăn cản hay phản đối thì gia đình cô gái đến gặp dăm dei (ông cậu) và Pô buk kông (ông mối) để nhờ sang nhà trai báo rằng, trong một ngày tới nhà gái sẽ có lễ Myor kông (lễ đưa vòng) dạm hỏi chàng trai cho cô gái.

Và đúng ngày hẹn, gia đình nhà gái chuẩn bị một ché rượu, một con gà, một chiếc vòng đồng cùng ông mai mang đến nhà trai ngỏ lời gọi là lễ hỏi chồng hay lễ đưa vòng. Sau khi nhận lời dạm ướm từ ông mai, nhà trai sẽ họp bàn và sau đó cử một dăm dei cầm chiếc vòng đồng do ông mai nhà gái đưa sang hỏi ý kiến chàng trai. Nếu nhận lời, chàng trai sẽ cầm chiếc vòng đồng và đại diện hai họ làm lễ trao vòng. Sau đó, nhà trai sử dụng ché rượu và con gà nhà gái mang qua mở tiệc thết đãi ông mai và gia đình nhà gái. Từ đây, hai gia đình chính thức đặt quan hệ thông gia và có trách nhiệm vun đắp cho tình yêu của đôi trẻ.

Lễ thỏa thuận

Lễ thỏa thuận được tổ chức sau lễ dạm hỏi một hoặc hai tháng và được tiến hành tại nhà của chàng trai trước sự chứng kiến của hai bên gia đình, dòng họ. Lễ thỏa thuận sẽ do hai dăm dei đại diện cho hai bên gia đình trực tiếp điều hành. Lễ thỏa thuận đề cập tới nhiều vấn đề liên quan tới chuyện cưới xin của đôi trẻ từ thỏa thuận thời gian ở dâu, thỏa thuận khoản thách cưới, lập khế ước hôn nhân đến đeo vòng.

Thỏa thuận về ngăn nũ (khoản thách cưới), trong hôn nhân truyền thống của đồng bào Êđê, thách cưới là một việc quan trọng, được xem như cuộc “định giá” về người đàn ông - người chồng tương lai của cô gái. Với quan niệm, con trai sau khi cưới sẽ ở rể là trụ cột lao động cho nhà vợ, do đó bên nhà trai thường đặt ra lễ thách cưới rất cao. Theo tác giả Vũ Đình Lợi, đồ thách cưới trong cưới hỏi truyền thống của dân tộc Êđê như sau: “Lin kmô kpin ama, ana kpin amí: 1 con heo đực lớn cúng cho người cha, một con heo cái lớn cúng cho người mẹ. Mỗi người đàn bà là chị em gái của người mẹ được cúng một con heo, không phân biệt to nhỏ, cái hay đực. Kông sapăn, ăbăn bă, mtil êa ksâo: lễ vật trả công cho sự nuôi dưỡng chàng rể của người mẹ bằng 8 cái vòng, một cái mền và một cái bát đồng. Amĭ ra, ama ring, căm ceh, blah rai adơi, amai taih kbưi, bă kơ ayong: một số tiền tặng cho anh chị em, cậu trong dòng họ của chàng rể. Ngăn dam kna, êra êmuh, mjuh mtei kbao, dleh jơng pua eh, êman kngân păn eh un, dleh trun nao hriê: tiền trả công cho người mai mối trong lễ trao vòng, khi cưới tiền này sẽ đưa ngay cho người mối sau mỗi giai đoạn nghi lễ. Còn các khoản sính lễ khác sẽ được giao nộp trong lễ cưới hoặc sau đó ít ngày tùy theo sự thỏa thuận của hai bên gia đình”[1]. Và không ít gia đình nhà trai đưa ra lễ thách cưới là trâu, bò, chiêng, ché… vượt quá khả năng kinh tế của nhà gái.

Như vậy, lễ vật thách cưới thực sự là gánh nặng đối với gia đình nhà gái, đặc biệt là những gia đình nghèo hay đông con gái. Và chính vì điều này mà nhiều đôi trẻ dù yêu nhau tha thiết nhưng không thể viết tiếp tình yêu của họ bằng cuộc sống hôn nhân bởi không vượt qua “cửa ải” là lễ vật thách cưới. Thẫm chí có trường hợp người phụ nữ mang bầu nhưng nhà trai vẫn không cho cưới vì nhà gái không chuẩn bị đủ lễ vật thách cưới và cuối cùng phải làm mẹ đơn thân. Hay có nhiều đôi trẻ vẫn có thể được tổ chức hôn lễ nhưng khoản thách cưới vẫn là món nợ mà sau kết hôn họ phải trả. Và cũng không ít trường hợp, người con gái không dám mơ tới cuộc sống lứa đôi vì gia đình quá nghèo.

Tiếp theo, hai bên gia đình còn thỏa thuận về Knil là lễ vật bồi thường danh dự hay thiệt hại cho nhà trai. Trong trường hợp nếu cô gái hủy hôn ước thì nhà gái phải làm một lễ hiến sinh là một con trâu hoặc một con heo cho nhà trai.

Mlih kông krah (trao đổi vòng taySau khi hai bên gia đình đã thỏa thuận xong các khoản thách cưới, các cam kết của hôn ước thì dăm dei sẽ đưa cho cô gái và chàng trai mỗi người một chiếc vòng đồng đã được chuẩn bị từ trước để họ trao đổi vòng tay cho nhau trước sự chứng kiến của hai bên gia đình, dòng họ. Nghi thức trao đổi vòng tay có ý nghĩa quan trọng, bởi nó là lời hẹn ước thủy chung, sẽ cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình. Trong trường hợp một bên bội bạc, tự ý hủy bỏ hôn nhân sẽ bị phạt đền và bồi thường cho bên thiệt hại. Và khoản bồi thường sẽ gấp đôi thậm chí gấp ba số giá trị được ấn định trong hôn ước. Không chỉ có đôi trai gái mà hai dăm dei của hai bên gia đình cũng trao cho nhau chiếc vòng đồng để chứng kiến cho cuộc hôn nhân này. Và sau khi đã thỏa thuận xong, hai bên gia đình cùng uống ché rượu cần với các ông mối và dăm dei của hai bên.

Tục gửi dâu

Sau khi lễ thỏa thuận được thống nhất thì hai họ thực hiện thủ tục gửi dâu. Dăm die sẽ dẫn cháu gái đến ở nhà chồng chưa cưới theo thỏa thuận của hai bên. Lễ vật gửi dâu gồm một con gà, một nắm xôi và một ché rượu để làm lễ. Thời gian ở dâu có thể là từ một đến ba năm, đây là thời gian thử thách lòng chung thủy, nết na, sự khéo léo, đảm đang của cô gái. Hết thời gian ở dâu, nhà gái cũng mang sang nhà trai lễ vật gồm một con gà, một ché rượu, một nắm xôi nhằm thể hiện sự kính trọng và cảm ơn nhà trai trong thời gian qua đã dạy bảo cô gái.

Trong trường hợp cô gái không vượt qua “thử thách”, nhà trai sẽ từ chối cuộc hôn nhân nhưng phải làm một lễ nhỏ mời gia đình cô gái qua nhằm thể hiện sự tôn trọng nhà gái, đồng thời mong muốn hai bên gia đình vẫn giữ mối quan hệ thuận hòa.

Lễ cưới (lễ đưa chồng về nhà vợ).

Lễ cưới được tiến hành sau khi cô gái thực hiện đủ thời gian ở dâu bên nhà trai và gia đình nhà gái đã chuẩn bị đủ các lễ vật thách cưới. Ngày cưới diễn ra, bên nhà trai sẽ làm lễ tiễn con bằng một ché rượu cần và một con heo. Các gia đình trong dòng họ cũng chung vui với nhà trai bằng cách đóng góp một ché rượu và một con gà. Nhà gái tổ chức rước rể về nhà mình, lễ vật mang theo làm lễ rước rể bắt buộc phải có vòng đồng, ché rượu cần, gói xôi, con gà trống. Sau khi làm lễ, dăm dei và ông mối dẫn đầu đám rước, theo sau là đôi trai gái, cha mẹ, anh chị em, họ hàng nhà trai. Trên đường đi khi gặp các chướng ngại vật như qua suối, qua cổng buôn, nhà gái sẽ trao cho những người bên nhà trai một chiếc vòng, điều này thay cho lời nhắn nhủ sẽ mãi thủy chung, cùng nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Đồng thời, trên đường về nhà gái, một nhóm thanh niên sẽ đón đường té nước vào người cô dâu và chú rể thay cho lời chúc phúc. Bởi theo quan niệm của đồng bào Êđê, đôi vợ chồng nào càng có nhiều người té nước, cô dâu, chú rể ướt càng nhiều thì cuộc hôn nhân càng hạnh phúc và gặp nhiều may mắn. Khi về tới nhà gái, mọi người đón tiếp, đánh chiêng, trống chúc mừng. Và tại giữa gian khách, các ché rượu cần đã được cột thành hàng để cúng Yang, cúng ông bà tổ tiên, cúng cha mẹ chàng trai và cầu mong sức khỏe, hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ. Sau khi cúng xong, người trưởng họ đại diễn hai bên gia đình tuyên bố cuộc hôn nhân của hai người được chấp nhận theo luật tục và đưa chiếc vòng đồng cho hai vợ chồng chạm tay vào lần cuối để chúc phúc cho vợ chồng hạnh phúc trọn đời. Lúc này người thân, bạn bè sẽ trao cho cô dâu chú rể những món quà và lời cầu chúc ý nghĩa. Khi phần lễ kết thúc, mọi người cùng nhau ăn uống, chia vui, cùng nhau múa hát, đánh cồng chiêng. 

Công việc tiếp theo là giao của thách cưới (công việc này có thể diễn ra trước khi tổ chức lễ cưới), dăm dei nhà gái đến nhà trai để giao toàn bộ của thách cưới, dăm dei nhà trai nhận và kiểm tra. Sau đó dăm dei nhà trai sẽ giao cho mẹ của chàng trai để phân chia cho tất cả các thành viên trong gia đình, các anh chị em, họ hàng của mình và trả thù lao cho ông mối, dăm dei theo tỉ lệ với khoản thách cưới.

Lễ lại mặt

Sau khi lễ cưới diễn ra khoảng ba đến bảy ngày thì hai vợ chồng sẽ về nhà chàng trai với mục đích lấy tư trang, vật dụng cá nhân và những công cụ sản xuất thường ngày.

2.2.  Biến đổi trong nghi lễ cưới hỏi

Ngày nay, nghi lễ cưới hỏi của đồng bào Êđê vẫn là nét sinh hoạt văn hóa hôn nhân vô cùng độc đáo nhưng dưới sự tác động của nhiều yếu tố, nó đã và đang có nhiều biến đổi.

Trong hôn nhân truyền thống, các bước trong nghi lễ được tiến hành một cách tuần tự nhưng hiện nay có xu hướng kết hợp các bước lễ. Việc kết hợp này phần nào cắt giảm được thủ tục cưới xin rườm rà, tiết kiệm được chi phí cho hai bên gia đình và tạo điều kiện thuận lợi cho gia đình trai, gái ở xa, đi lại khó khăn. Hay thời gian ở dâu được rút ngắn lại, không phải là một đến ba năm như trước mà có thể chỉ là một hoặc hai tháng, thẫm chí có cô gái không phải ở dâu mà thời gian ở dâu sẽ được qui ra tiền hoặc vàng (mỗi năm qui đổi thành một chỉ vàng).

Và hiện nay, thách cưới vẫn là phần lễ quan trọng không thể thiếu trong phong tục cưới hỏi nhưng lễ vật thách cưới cũng có sự thay đổi ít nhiều. Những lệ vật cưới xin như bát đồng tượng trưng cho nồi cơm và bầu sữa mẹ; vòng tượng trưng cho sự ràng buộc, cũng như lễ vật cúng cha mẹ chồng tương lai để tạ ơn công sinh thành dưỡng dục vẫn được giữ nguyên không thay đổi so với trước. Tuy nhiên theo sự vận động của xã hội, nhận thức của người dân đã có sự thay đổi nên giờ đây các cuộc hôn nhân không còn mang tính chất gả - bán rõ nét mà bố mẹ quan tâm hơn tới hạnh phúc của các con. Vì vậy, nhà trai cũng giảm lễ vật thách cưới theo mong muốn của nhà gái nếu nhà gái không đủ điều kiện để đáp ứng. Mặt khác, hiện nay một số lễ vật để cúng các dì bên mẹ chồng, quà tặng các anh chị em của chồng thường được quy ra tiền mặt. Hay như chiếc chăn ấm trong khoản thách cưới tượng trưng cho sự ấm cúng của gia đình phải do cô dâu tương lai dệt thành để thể hiện sự khéo léo, đảm đang của cô gái thì ngày nay được mua bởi sản phẩm sản xuất hàng loạt theo dây chuyền công nghiệp.

Mặt khác, trong đám cưới của đồng bào Êđê hiện nay, một số nghi lễ truyền thống cũng được giản lược để rút ngắn thời gian tổ chức, có sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, kết hợp các yếu tố văn hóa Việt - Êđê. Do đó, trong đám cưới có sự thay đổi trong trang phục cưới hỏi, nơi tổ chức đám cưới, cỗ cưới, quà mừng. Trong ngày trọng đại của cuộc đời, cô dâu, chú rể vẫn mặc trang phục truyền thống của dân tộc để thực hiện các nghi lễ nhưng sau đó cô dâu thay bộ váy cưới và chú rể mặc vest như người Việt. Cách thức trang trí, âm nhạc cũng thay đổi theo hướng Kinh hóa như thuê dàn nhạc sống, hát những bài hát thịnh hành của giới trẻ nên việc đánh cồng chiêng và hát các ca khúc dân ca thâu đêm của đồng bào dường như không còn. Nơi tổ chức đám cưới không chỉ ở nhà mà tiệc cưới là tiệc mặn có thể được gia đình đặt tại các điểm dịch vụ, nhà hàng với nhiều món ăn hiện đại, nấu theo phong cách người Việt. Và không chỉ nhà gái mới được tổ chức tiệc cưới mà nhà trai nếu có điều kiện cũng tổ chức tiệc cưới riêng. Điều này cho thấy, trong gia đình Êđê hiện nay con trai, con gái đều có sự bình đẳng, mặt khác nó thể hiện sự hội nhập cả về văn hóa lẫn kinh tế. Đồng thời, nếu như trước đây quà mừng cưới cho đôi vợ chồng trẻ thường là các hiện vật thì ngày nay khách tới mừng thường đi phong bì là tiền mặt. Và một điều đặc biệt trong hôn nhân hiện nay là vợ chồng không chỉ quan tâm tới khế ước hôn nhân theo luật tục mà còn đi đăng ký kết hôn theo luật pháp.

Hiện nay số hộ gia đình đồng bào Êđê theo các tôn giáo tương đối nhiều, trong đó nhiều nhất là Thiên chúa giáo và Tin lành. Đối với những gia đình theo đạo, hai bên gia đình sẽ đến nhà thờ làm lễ trước, sau đó một tuần họ mới tổ chức tiệc cưới. Khi làm lễ tại nhà thờ, cô dâu chú rể và các thành viên tham dự sẽ mặc trang phục truyền thống. Ngoài ra với những gia đình theo đạo Tin lành thì tuyệt nhiên không thắp hương, không sử dụng rượu cần hay đánh chiêng, trống trong các nghi thức cưới hỏi.

Và đặc biệt, hiện nay có sự biến đổi trong nghi lễ cưới hỏi từ hôn nhân ngoại tộc đem lại. Do điều kiện gặp gỡ, làm quen với người ngoại tộc thuận lợi hơn nên tăng cơ hội giao lưu, mở rộng mối quan hệ trong giới trẻ. Vì vậy ngày càng có nhiều con em của đồng bào Êđê kết hôn với người ngoài dân tộc, có thể là cuộc hôn nhân giữa người Êđê với các dân tộc thiểu số cùng theo thiết chế mẫu hệ, hay hôn nhân giữa con em Êđê với các dân tộc phụ hệ. Trong đó, trường hợp kết hôn giữa người Êđê với người Kinh ngày càng nhiều. Và trong các trường hợp kết hôn ngoại tộc, các nghi lễ cưới hỏi của đồng bào Êđê không còn theo phong tục truyền thống mà thay vào đó là sự kết hợp nghi lễ giữa hai dân tộc khác nhau. Trong trường hợp, bạn đời là người cùng chung chế độ mẫu hệ thì các nghi lễ trong cưới hỏi cũng như cuộc sống hôn nhân ít có bất đồng về phong tục, lối sống. Sau khi cưới, chồng vẫn ở rể bên nhà vợ và con cái sinh ra theo họ mẹ. Nhưng trường hợp, con em Êđê kết hôn với con em các dân tộc theo thiết chế phụ hệ thì hôn nhân có rất nhiều thay đổi, phong tục, nghi lễ cưới xin chủ yếu theo bên chồng. Đa số con cái sinh ra trong các cuộc hôn nhân khác tộc này đều mang họ của bố. Người chồng là dân tộc khác sẽ không ở rể, vợ chồng làm nhà ở riêng hoặc có trường hợp người con gái Êđê về làm dâu nhà chồng. Ngược lại, chàng trai người Êđê phải đi hỏi vợ và sau kết hôn cô gái ở dâu nhà chồng. Mặt khác trong đời sống gia đình, vợ chồng ít nhiều đều có sự thay đổi, điều chỉnh về phong tục, lối sống cho phù hợp với bạn đời. Tuy nhiên một điều dễ nhận thấy là trong gia đình hôn nhân với các tộc người theo thiết chế phụ hệ thì yếu tố mẫu hệ bị mất dần, thay vào đó là kiểu gia đình phụ hệ.

Như vậy, việc kết hôn ngoại tộc sẽ giúp dân tộc Êđê mở rộng mối quan hệ thân tình hơn với cộng đồng các tộc người cùng cộng cư trên địa bàn, giúp các bạn trẻ có thêm cơ hội lựa chọn bạn đời phù hợp. Và việc kết hợp các nghi lễ cưới hỏi giữa hai dân tộc sẽ tạo nên sự phong phú, đa dạng cho kho tàng nghi lễ cưới hỏi của Việt Nam. Đồng thời, các cuộc hôn nhân hỗn hợp dân tộc sẽ tạo điều kiện để loại bỏ những phong tục lạc hậu của từng tộc người. Tuy nhiên, hôn nhân hỗn hợp giữa tộc người Êđê với các tộc người khác (đặc biệt là hôn nhân các tộc người theo chế độ phụ hệ) cũng nảy sinh một số vấn đề cần lưu tâm. Đó là sự biến đổi rất lớn trong phong tục, nghi lễ cưới hỏi cũng như trong cuộc sống hôn nhân, đã và đang làm mai một dần một số giá trị văn hóa tộc người, đặc biệt là văn hóa mẫu hệ. Mặt khác, trong cuộc sống hôn nhân khác tộc, vợ chồng có thể dễ xẩy ra mâu thuận do bất đồng về phong tục, lối sống.

3. Kết luận

Cùng với xu hướng phát triển, giao lưu, hội nhập chung của đất nước, các sinh hoạt văn hóa của người Êđê ở Khánh Hòa có nhiều biến đổi theo thời gian, đặc biệt trong nghi thức cưới hỏi, quan niệm, phong tục hôn nhân có nhiều thay đổi rõ nét. Các nghi lễ được thực hiện theo xu hướng giản lược, gọn nhẹ, đỡ tốn kém, có sự giao lưu tiếp biến tạo nên sự phong phú trong nghi thức cưới hỏi. Nhưng mặt khác việc xuất hiện những phương thức mới trong tổ chức đám cưới nên ít nhiều đánh mất một số giá trị văn hóa cưới hỏi truyền thống, làm phai mờ một số đặc trưng văn hóa trong hôn nhân của đồng bào. Và quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc sẽ còn diễn ra ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc, vì vậy nghi lễ cưới hỏi truyền thống của người Êđê sẽ tiếp tục có những biến đổi. Do đó, trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để “hòa nhập mà không hòa tan” tức giao lưu, học hỏi nhưng không đánh mất đi các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, đồng thời có thể tiếp nhận những yếu tố mới thích hợp với thời đại. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Đình Lợi (1994), Hôn nhân và gia đình truyền thống ở các dân tộc Malayo - Polynexia Trường Sơn - Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Buôn Krông Tuyết Nhung (2012), Văn hóa mẫu hệ qua sử thi Êđê, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

3. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1992), Văn hóa dân gian Êđê. Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

Nguyễn Thị Nga


[1] Vũ Đình Lợi (1994), Hôn nhân và gia đình truyền thống ở các dân tộc Malayo - Polynexia Trường Sơn - Tây Nguyên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.122




 
Tổng quan