Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
       
  02/01/2019 09:26        

Nghi lễ cưới hỏi truyền thống của dân tộc Raglai ở Khánh Hòa

Tóm tắt

Hôn nhân là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng, là sự khởi đầu tạo dựng gia đình mới nhằm duy trì sự phát triển nòi giống. Nhưng hôn nhân của mỗi dân tộc sẽ mang những sắc thái riêng được phản ánh rõ nét qua quan niệm, phong tục trong nghi lễ cưới hỏi. Và như các dân tộc anh em khác, dân tộc Raglai từ bao đời luôn xem hôn nhân là việc quan trọng, chuyện đại sự trong đời. Họ có những tập tục, nghi lễ cưới hỏi mang nét đặc trưng riêng góp phần tạo nên bức tranh văn hóa rực rỡ của dân tộc mình.

Từ khóa: Nghi lễ cưới hỏi, truyền thống, Raglai

1.     Đặt vấn đề

Raglai là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngữ hệ Malayo-Polynedi và theo thiết chế mẫu hệ. Hiện nay dân tộc Raglai phân bố chủ yếu ở vùng miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng núi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2009 dân tộc Raglai ở Việt Nam có tổng dân số hơn 122.245 người chiếm 0,14% tổng dân số cả nước. Trong đó cư trú ở Khánh Hòa là 45.915 người chiếm 37,6% tổng số người Raglai tại Việt Nam, chiếm 3,97% dân số toàn tỉnh, là tộc người đông dân thứ hai sau người Việt ở Khánh Hòa. Với những giá trị văn hóa mang đặc trưng riêng, dân tộc Raglai ở Khánh Hòa đã và đang góp phần làm đa dạng màu sắc bức tranh văn hóa tộc người. Và một trong những giá trị văn hóa đó có nghi lễ cưới hỏi truyền thống.

Nghi lễ cưới hỏi của dân tộc Raglai là một trong những nghi lễ quan trọng thuộc hệ thống nghi lễ vòng đời, diễn ra trước sự chứng kiến của gia đình, dòng họ, cộng đồng. Nghi lễ cưới hỏi truyền thống tuần tự diễn ra các bước lễ hỏi, lễ đưa bầu rượu, lễ trao đồ cho con dâu tương lai, lễ cưới, lễ đưa cử về nhà chồng. Đồng thời để có kiến thức sâu hơn, chúng ta cũng tìm hiểu thêm tục “ngủ thảo” là phong tục tiền hôn nhân của người Raglai bởi nó có nhiều nét đẹp, mang dấu ấn văn hóa riêng.

Nhưng trong bối cảnh giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, điều kiện sống có sự biến đổi nhanh chóng, nhận thức của người dân cũng phần nào thay đổi. Đồng thời, dưới sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác đã làm cho quan niệm, phong tục, các nghi lễ cưới xin có một số biến đổi. Tuy nhiên, so với các dân tộc anh em khác, dân tộc Raglai vẫn giữ được nhiều giá trị truyền thống. Bởi những người con Raglai các thế hệ luôn có ý thức giữ gìn và truyền lại cho con cháu đời sau các phong tục, nghi lễ trong hôn nhân nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người mình.

2.     Nội dung

2.1.  Tục ngủ thảo

Cùng là những tộc người theo thiết chế mẫu hệ nhưng nếu như dân tộc Êđê khi người con gái từ 16 tuổi có thể tự mình lựa chọn người chồng tương lai, họ sẽ chủ động, tự do tìm hiểu các chàng trai trong buôn hay ngoài buôn thì người con gái Raglai không được phép. Theo như luật tục Raglai, người con gái không được chủ động trong tình yêu, việc tìm hiểu nhau phải để chàng trai chủ động “Con trâu đi tìm sình lầy, không bao giờ sình lầy đi tìm trâu”. Nếu người con gái bày tỏ tình yêu trước sẽ bị xem là không thùy mị, nết na, bị xóm làng chê cười, bị coi là hư thân mất nết “Con gái sắt hư, con gái sắt thúi”. Người con gái phải chăm chỉ, siêng năng, giỏi việc nương rẫy, giỏi quán xuyến việc nhà và khi được các chàng trai đem lòng yêu mến thì cô gái mới được phép chọn người “ngủ thảo”.

Ngủ thảo không ai biết có tự bao giờ, chỉ biết tục lễ này chỉ dành cho các chàng trai, cô gái chưa lập gia đình. Ngủ thảo không chỉ diễn ra một vài đêm mà nó có thể kéo dài từ khi đôi trai gái quyết định tìm hiểu nhau cho tới ngày cưới. Ngủ thảo được xem là tục lệ đẹp, qua các đêm ngủ thảo sẽ giúp cho đôi bạn trẻ tâm tình để thấu hiểu nhau hơn, nuôi nấng cho tình yêu bền chặt để nếu tiến tới hôn nhân vợ chồng sẽ có cuộc sống hòa thuận hơn. Đồng thời, tục ngủ thảo còn là sự thử thách bản thân cũng như sự tôn trọng nhau của đôi bạn trẻ. Bởi theo luật tục, đôi trai gái được ngủ thảo để tâm tình nhưng không được đi quá giới hạn, nếu lỡ “vượt rào” thì bị nộp phạt cho làng một con heo, một ché rượu (nếu giấu kín mà bị làng phát hiện thì phải nộp phạt gấp đôi), và hai gia đình phải làm lễ “cắt lúi, cúi đầu” tạ tội trước ông bà tổ tiên vì đã làm xấu mặt dòng họ, làng xóm và không được tổ chức cưới trang trọng. Trong quá trình ngủ thảo để tìm hiểu nhau, nếu đôi trai gái cảm thấy mình thực sự hợp nhau, yêu nhau, không thể sống thiếu nhau sẽ xin hai bên gia đình cho phép tiến tới hôn nhân. Ngược lại nếu không ưng thuận nhau thì đôi trai gái chia tay trong êm đẹp, không oán thán giận hờn hay ghét bỏ nhau.

Tuy nhiên ngày nay, nhiều đôi yêu nhau đã có những hành vi buông thả trước hôn nhân, làm cho tục ngủ thảo không giữ được những giá trị tốt đẹp vốn có nên tục ngủ thảo không còn được duy trì.

Sau khi gia đình hai bên đồng ý cho đôi bạn trẻ tiến tới hôn nhân thì nhà trai phải tìm ông mai, ông mối, đó là những người đứng tuổi, am hiểu phong tục tập quán, hiểu biết sâu rộng, nói năng hoạt bát để sang nhà gái tiến hành lễ hỏi.

2.2.   Lễ ăn hỏi (Puaiq tinhã cumơi)

Lễ ăn hỏi của người Raglai tương đương với “lễ chạm ngõ” của người Việt. Và mặc dù, dân tộc Raglai theo thiết chế mẫu hệ nhưng con trai vẫn là người chủ động từ việc chọn đối tượng bạn đời cho đến việc đi hỏi vợ vì vậy nhà trai phải qua nhà gái trước. Trong lễ ăn hỏi, nhà trai gồm chàng trai, ông mai, bà mối và cô em gái mang lễ vật sang nhà gái, lễ vật mang theo thường là một xấp lá trầu xanh và một chùm trái cau tơ. Đây là buổi đầu gặp gỡ giữa hai gia đình chủ yếu là tìm hiểu hoàn cảnh và dạm hỏi ý tứ gia đình hai bên. Sau đó nhà gái rót ra bốn tô rượu cần và làm bốn con gà được đặt trên một cái mâm có bốn chén đầu, chân và bốn chén thịt mời bốn người bên nhà trai.

Sau lễ ăn hỏi, trong khoảng thời gian chưa tổ chức lễ cưới (thời gian từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới không hạn định có thể là một năm, hai năm hay ba năm) chàng trai, cô gái tiếp tục tìm hiểu và thường xuyên qua lại nhà nhau để giúp các công việc phát nương, cày ruộng, cấy hái… và hai bên gia đình cũng qua lại nhà nhau qua lễ đưa bầu rượu.

2.3. Lễ đưa bầu rượu (Vanãu vìq viluai)

Lễ này thì nhà gái đến nhà trai và cũng gồm bốn người ông mai, ông mối, một cô gái mang lễ vật (lễ vật gồm trầu cau, thuốc lá) và cô dâu tương lai. Nhà trai sẽ làm ba con gà và chuẩn bị ba ché rượu để đón nhà gái. Trong bữa ăn, đầu tiên cô dâu tương lai sẽ rót rượu mời bố mẹ chồng, sau đó hai bên gia đình rót rượu mời nhau, cùng ăn uống và bàn việc hôn nhân.

Và để tiến tới lễ cưới, nhà trai còn qua nhà gái để hai bên chính thức bàn chuyện cưới xin qua lễ trao đồ cho cô dâu tương lai.

2.4. Lễ trao đồ cho cô dâu tương lai (Patững ga huaq vu)

Sau khi đủ điều kiện để tổ chức lễ cưới, nhà trai cũng gồm bốn người như lễ ăn hỏi sang nhà cô dâu trao món đồ cho cô dâu tương lai và đưa lễ vật chính thức bàn chuyện chuẩn bị cho lễ cưới. Lễ này được xem trọng vì qua lễ này hai bên xác định thời gian cưới và đám cưới được tổ chức theo hình thức nào: cưới trang trọng hay cưới phạt?

Khi hai bên quyết định tiến tới hôn nhân thì nhà gái bày mâm cúng cho nhà trai khấn vái Nhang ông bà, Chúa xứ sở thần hồn. Và chàng trai sẽ trao lễ vật, lễ vật lần này ngoài trầu cau, còn có thêm vòng tay (bằng đồng hay bạc) và cuộn dây cườm màu trắng, xanh hặc đen (nhưng tuyệt đối không mang dây cườm đỏ). Lễ vật của nhà trai trong lễ trao đồ cho cô dâu tương lai được thể hiện rất rõ trong luật tục: “Lá trầu tươi xanh một xấp/ Cau nguyên trái một buồng/ Cườm sợi chuỗi hoặc đầu cườm bện/ Cườm màu xanh, màu trắng hay màu đen… không được đem dây cườm hay đầu cườm màu đỏ! Vòng đeo tay bằng bạc hay bằng đồng”[1]. Nếu gia đình nhà trai khá giả còn có thêm vải vóc. 

Đồng thời chàng trai còn trao cho người yêu cái túi đựng trầu, cô gái đón nhận và têm ba mươi bảy miếng trầu, bửa đủ ba mươi bảy miếng cau cho vào túi và trao lại cho chàng trai. Điều này thể hiện tình cảm thắm nồng của đôi trẻ tựa miếng trầu cau không thể thiếu nhau và là dịp để cô gái thể hiện sự khéo léo của mình. Không chỉ trao vật làm tin mà trong dịp lễ này, đôi trai gái cũng phải khai thật với mọi người đã “vượt rào” hay chưa để quyết định hình thức cưới trang trọng hay cưới phạt.

Và trong thời gian chờ lễ cưới, nếu một trong hai bên không muốn tiếp tục tiến tới hôn nhân thì tổ chức trả của và người gây ra phải chịu phạt, bị cộng đồng lên án. Nếu chàng trai đổi bụng không cưới sẽ mất toàn bộ lễ vật đưa sang nhà cô gái và chịu phạt theo luật tục: “Thằng con trai nó đổi cái bụng thay cái gan/ Thì của cải đã trao đã tặng coi như ném xuống sông/ Nó còn phải cúng tạ lỗi ông bà/ Làm góa bụa trầu cau lỡ làng duyên phận/ Nó phải chịu phạt cho họ hàng người ta/ Nó phải chịu lỗi với ông mai, ông mối”[2]. Nếu con gái phá bỏ hôn ước thì chịu phạt lớn hơn và bị cộng đồng lên án gay gắt hơn, điều này cũng được phản ánh qua luật tục: “Với đứa con gái đổi miệng thay lời, vất cái vòng tay bỏ, cái dây cườm không đeo nữa/ Làm tan cái đầu cườm không dòm ngó tớiKhông chịu đeo những dây cườm đó/ Thì nó là đứa có lỗiPhải đền của một thành haiPhải chịu phạt tạ tội đến ông bà người ta[3].

2.5.  Lễ cưới

Lễ cưới trang trọng (Huaq vu)

Lễ cưới trang trọng là lễ cưới dành cho trai còn lành, gái còn trong trắng. Đây là ngày lễ quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời mỗi người nên các phong tục, nghi lễ trong ngày cưới đều được thực hiện nghiêm chỉnh và thành khẩn.

Lễ cưới của người Raglai được tổ chức cả nhà trai và nhà gái (nhà trai tổ chức ngày thứ nhất vào ngày lẻ, nhà gái tổ chức ngày thứ hai vào ngày chẵn). Khi thực hiện nghi thức cưới ở nhà trai xong, sang ngày thứ hai nhà trai xuất phát tới nhà gái từ sáng sớm và trước khi đi họ mang ná ra bắn một mũi tên về phía Đông và một mũi tên về phía Tây. Sau đó nung đỏ mũi giáo, mũi lao và dỗi nước lạnh với ý nghĩa cầu mong cho chàng trai săn bắn, làm ăn giỏi, cuộc sống vợ chồng được đầy đủ, sung túc.

Khi sang nhà gái, họ mang theo lễ vật và tùy điều kiện kinh tế từng gia đình mà lễ vật nhiều hay ít. Tuy nhiên lễ vật bắt buộc trong đám cưới truyền thống bao gồm: một cay ná, một ống mũi tên, một mũi lao, một mũi giáo và bốn con dao. Khi chàng rể tới nhà vợ phải rửa sạch tay chân tại chân cầu thang sau đó lên nhà và tới ngồi cùng cô dâu đã đợi sẵn trên một tấm vạt riêng. Và trong khi mọi người mời nhau miếng cau trầu lộc hay điếu thuốc thì cô dâu, chú rể không được tiếp. Lúc này cô dâu chú rể phải thực hiện nghi lễ cúng ông bà tổ tiên, mời ông bà về chứng giám cho lễ thành hôn của hai người, từ nay gia đình có thêm một thành viên mới và cho phép chú rể đeo chuỗi hạt cườm, vòng vào tay cô dâu. Và một điều đặc biệt là mâm cúng ông bà tổ tiên của cô dâu chú rể phải là một con gà luộc nguyên con và hai tô cơm với ý nghĩa có tô ăn tô để, cầu mong ông bà phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ thuận hòa, làm ăn gặp nhiều may mắn. Cúng xong họ xem bói lưỡi gà nhằm “dự báo” tương lai cuộc hôn nhân và cô dâu chú rể rót rượu mời nhau.

Tiếp theo là đưa các vật lễ vào cúng cầu mong mùa màng tốt tươi, bắp lúa đầy kho, vợ chồng hòa thuận yêu thương nhau trọn đời. Vật lễ cúng bao gồm một mũi giáo, một mũi lao, một cây dao nhọn và một con dao to có tám khâu dùng để làm và bằm thịt heo. Vật lễ còn lại lúc nhà trai mang sang gồm cây ná, ống tên, ba con dao sẽ để lại trong gùi để người em gái mang về nhà làm kỉ niệm.

Sau nghi lễ cúng ông bà tổ tiên và vật lễ, trong đám cưới truyền thống của người Raglai không thể thiếu tục lễ cô dâu chú rể bốc cơm thịt mời nhau. Trước khi bốc cơm thịt cho nhau cô dâu chú rể phải rửa tay trong một tô nước lạnh để ngay cạnh mâm, mỗi lần bốc là một lần rửa tay. Bát cơm của đôi vợ chồng được bới đầy ngọn, chú rể bốc cơm phần dưới ngọn và xé thịt đút cho cô dâu, cô dâu bốc cơm ngay phần ngọn và xé thịt đút cho chú rể. Cơm được bốc tới đâu Bà tiếp cơm (Mỏq dut vu su sumac) sẽ bổ sung ngay phần đấy làm cho bát cơm luôn đầy ngọn, không vơi cạn để cầu mong cuộc sống gia đình sau này luôn đủ đầy. Khi chú rể đút cho cô dâu được bảy miếng và cô dâu đút cho chú rể sáu miếng thì Bà tiếp cơm dùng vải trắng sạch đậy kín tô cơm lại. Tục lệ này có ý nghĩa rất lớn đối với cô dâu chú rể, vợ chồng đút cơm cho nhau là một lời nhắc nhở trong cuộc sống vợ chồng phải luôn yêu thương, chăm sóc nhau, giữ tình cảm thủy chung son sắt. Và việc dùng tay để bốc cơm là thể hiện sự gắn kết con người với cây lúa, cầu mong cây lúa nặng hạt để thóc đầy kho, cơm đầy nồi.

Sau khi hai vợ chồng trao gửi yêu thương qua tục lễ đút cơm cho nhau, nhà gái sẽ dọn mâm cỗ để mọi người cùng ăn uống, chúc phúc cho cô dâu chú rể. Đây cũng là dịp để người Raglai đánh Mã la, hát hò vui chơi.

Sáng hôm sau, nhà gái tổ chức bữa cơm thịnh soạn mời nhà trai thưởng thức rượu nhất đựng trong bầu, ăn đầu heo và tiễn đàng trai ra về. Đồng thời gửi kèm theo rượu, thịt heo để đàng trai về nhà mời mọi người ăn uống.

Cưới phạt (Cacah richo)

Trong quan niệm truyền thống, người Raglai rất xem trọng trinh tiết vì thế rất kiêng kỵ việc đôi trẻ “ăn cơm trước kẻng”. Bởi theo quan niệm của người Raglai, đây là việc làm ô uế tới ông bà, tổ tiên “Trai gái làm cái việc nhơ nhuốc gớm ghiếc như nôn như ọe/ Làm dơ dáy đến Tổ tiên, ông bà, cha mẹ” và mang họa đến cho buôn làng vì đã xúc phạm tới ông chúa coi giữ sự trong trắng và bà chúa coi giữ sự trinh bạch đây cũng là thần hồn của bắp lúa, vì vậy thần sẽ bỏ đi nên mùa màng thất bát. Do đó để trừng phạt đôi trai gái, luật tục Raglai quy định đôi trai gái phải làm lễ tẩy rửa sạch mọi ô uế hay tắm gội sạch mọi dơ bẩn để cầu xin thần linh và tổ tiên ông bà không trừng phạt làm dịch bệnh, hạn hán, lũ lụt, làm chết bắp, cháy lúa… gây hiểm họa tai ướng tới gia đình và cộng đồng. Và nước để tẩy rửa mọi ô uế của đôi trai gái “vượt rào” là “nước mối thiêng” - ia mũa. Trước khi hành lễ, người chủ lễ sẽ lấy đất trong ổ mối hòa với nước sau đó gạn lấy nước trong cho vào chén đồng vừa làm nghi lễ cầu khấn vừa lấy nước vẩy lên đầu, xoa lên thân người có tội. Đồng thời đám cưới của họ chỉ được tổ chức trong phạm vi gia đình, dưới hình thức tạ tội tổ tiên, ông bà cha mẹ, họ hàng mà không được mời khách khứa, bạn bè, không tổ chức các cuộc vui.

2.6.  Lễ đưa cử về nhà chồng (Vanãu ukhit/ nãu juaq havơu sacàq)

Lễ này giống như lễ lại mặt của người Việt. Sau ngày cưới bố mẹ cô dâu và đôi vợ chồng trẻ sẽ qua nhà chú rể để thăm sui gia và làm mâm cơm cúng ông bà tổ tiên. Lễ này của người Raglai tại Khánh Hòa không thống nhất có thể là ba ngày, bảy ngày, mười ngày hay có khi là một tháng sau khi cưới. Lễ vật mang theo gồm một con gà, một ché hoặc một bầu rượu để vợ chồng bày cúng gia tiên, người chồng xin phép ông bà tổ tiên, cha mẹ từ nay làm con rể nhà khác và cầu mong tổ tiên phù hộ. Đồng thời nhà trai cũng dựa vào điều kiện kinh tế mà đáp lễ bằng tặng phẩm như: heo, trâu, bò, gùi, nồi niêu, chén bát… Sáng hôm sau, nhà trai tiễn ông bà thông gia và vợ chồng con ra về, người chồng ở rể bên nhà vợ. Từ đây hai bên thông gia luôn gần gũi và giúp đỡ nhau.

3.  Kết luận

Nghi lễ cưới hỏi truyền thống của dân tộc Raglai là mảnh ghép trong bức tranh văn hóa đầy màu sắc. Và với những phong tục, giá trị riêng, nó đã góp phần quan trọng phản ánh đặc trưng dân tộc, mang sắc thái rõ nét của chế độ mẫu quyền trong đời sống của dân tộc Raglai. Hy vọng bằng sự giáo dục của ông cha đi trước, bằng tình yêu, niềm tự hào, các thế hệ con em Raglai sẽ tiếp tục lưu giữ những nét đẹp, giá trị văn hóa tiêu biểu của mình trong nghi lễ cưới hỏi để bản sắc dân tộc không bị phai mờ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Hữu Bài, Trần Kiêm Hoàng, Lê Văn Hóa, Trần Vũ, Chamaliaq  Riya Tiẻnq (2014), Văn hóa dân gian Raglai ở Khánh Hòa, Nxb Văn hóa -  Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh         

2. Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thế Sang (2012), Luật tục Chăm và luật tục Raglai, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội

                                                                                                                                                                                                          Nguyễn Thị Nga

 



[1] Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thế Sang (2012), Luật tục Chăm và luật tục Raglai, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.514

[2] Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thế Sang (2012), Luật tục Chăm và luật tục Raglai, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.519

[3] Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thế Sang (2012), Luật tục Chăm và luật tục Raglai, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.520


 
Tổng quan