Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
       
  10/05/2019 09:39        

Dạy học theo phương pháp tiếp cận năng lực người học tại trường Đại học – vai trò và giải pháp

  Tóm tắt

Trong xu hướng tăng cường liên kết, trao đổi hoạt động đào tạo, việc làm trong khu vực và trên thế giới, cũng như yêu cầu cần phải nâng cao chất lượng đào tạo nên việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học là một trong những nhiệm vụ cần kíp của toàn ngành giáo dục, đặc biệt là các trường đại học. Bởi chỉ có sự thay đổi này mới giúp người học phát huy tối đa khả năng sáng tạo, chủ động, tích cực trong học tập, nghiên cứu; giúp người học vận dụng linh hoạt kiến thức lý thuyết với thực hành, ứng biến nhanh trong xử lý tình huống, trải nghiệm thực tiễn.

Từ khóa: Phương pháp, dạy học, năng lực người học.

1.    Đặt vấn đề

Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khoảng 60% sinh viên ra trường làm trái ngành và tính đến đầu năm 2017 có hơn 200.000 cử nhân thất nghiệp. Con số trên đây ít nhất cho chúng ta thấy hai vấn đề: một là chất lượng đào tạo; hai là nhu cầu lao động của xã hội có sự thay đổi nhưng chương trình đào tạo tại các trường chưa bắt kịp xu thế. Mặt khác, trong điều kiện toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay thì yêu cầu của nhà tuyển dụng ngày cao, người lao động không chỉ có kiến thức mà đòi hỏi phải có các kỹ năng mềm và đặc biệt là việc vận dụng các kiến thức, kỹ năng đó vào giải quyết các công việc thực tiễn như thế nào để lao động đạt năng suất cao nhất. Và một trong những phương pháp, tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo, mang lại uy tín, thương hiệu cho các trường là chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”, “đầu ra”, “giá trị gia tăng”, sự thỏa mãn nhu cầu người học, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm đúng chuyên ngành cũng như sự hài lòng của các nhà tuyển dụng… Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là để tồn tại và bắt kịp với xu thế phát triển của xã hội thì các trường đại học nói riêng và hệ thống giáo dục nói chung cần đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực người học - một yêu cầu cần kíp phải thực hiện.

2.    Nội dung

2.1. Khái niệm năng lực

Trước những hạn chế của nền giáo dục trong nước cũng như yêu cầu phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất nước, Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) đã nêu rõ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong đó nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là phát triển năng lực người học, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước. Vậy chúng ta hiểu thế nào là dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học? Và để hiểu phương pháp dạy học này, trước tiên chúng ta tìm hiểu khái niệm năng lực.

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực được hiểu theo 2 cách như sau:

Cách thứ nhất: “Năng lực là chỉ khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó” [1, tr.114]. Như vậy, nếu hiểu theo cách này thì năng lực là khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hay một số kỹ năng để thực hiện hay giải quyết vấn đề.

Cách thứ hai: “Năng lực là phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [1, tr.114]. Như vậy theo cách này thì năng lực được xem là phẩm chất có sẵn nhưng ở dạng tiềm năng và sẽ giúp con người giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống một cách hiệu quả nhất.

Như vậy, từ hai cách hiểu trên chúng ta có thể thấy rằng năng lực là tố chất vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những vấn đề, tình huống có thực trong công việc, cuộc sống. Và chính năng lực sẽ giúp con người giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng, hiệu quả, nâng cao chất lượng lao động.

Đồng thời, chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada) có quan niệm về năng lực như sau: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6]. Như vậy, theo cách hiểu này thì năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt của nhiều yếu tố và phải được vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực.

     Từ những quan niệm trên chúng ta thấy rằng năng lực dù là tố chất có sẵn hay là sự kết hợp của nhiều yếu tố thì điều quan trọng là nó chỉ được biểu hiện, được công nhận khi con người vận dụng nó để giải quyết hay thực hiện một vấn đề, nhiệm vụ nào đó trong công việc, cuộc sống, tức phải gắn liền với thực tiễn.

Như vậy, dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học chính là việc giáo viên phải có phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm, phải khơi gợi được niềm đam mê của người học và đặc biệt phải tạo điều kiện “học đi đôi với hành” để người học vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ mà mình lĩnh hội được vào giải quyết các tình huống thực tiễn. Và để thực hiện điều này, mỗi cơ sở đào tạo cần nhanh chóng thoát khỏi mô hình giáo dục truyền thống, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Nghĩa là phải thay đổi quan điểm, mục tiêu dạy học: từ chỗ chỉ quan tâm tới việc người học học được gì đến chỗ quan tâm tới việc người học làm được cái gì qua việc học.

2.2. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học ở các trường đại học

Trong xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển không ngừng nghỉ của khoa học công nghệ cũng như yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi ngày càng cao thì phương pháp dạy học truyền thống của nền giáo dục nước nhà đã trở nên lỗi thời. Do đó cần thực hiện “cuộc cách mạng về giáo dục” trong đó có phương pháp dạy học. Vì vậy, chúng ta phải tích cực thay đổi phương pháp dạy học truyền thống, cách truyền đạt kiến thức một chiều sang phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học - lấy người học làm trung tâm, tập trung phát triển năng lực người học. Đây được xem là sự cần kíp phải thực hiện ngay và đồng bộ của nền giáo dục trong nước từ các cấp học tới các bậc học. Và đứng trước xu hướng vận động này, các trường đại học muốn tồn tại và phát triển cần “chuyển mình” nhanh chóng để thực hiện Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) trong đó có đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia và nâng tầm thương hiệu nhà trường.

2.2.1. Nâng cao chất lượng trong giáo dục đại học

Hiện nay do có nhiều đối tượng nghiên cứu và nhiều cách tiếp cận khác nhau nên vẫn chưa có một khái niệm nhất quán về chất lượng giáo dục đại học. Tuy nhiên với một khái niệm tổng quát nhất thì chất lượng giáo dục đại học cần tích hợp được các yếu tố sau: “Sự thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu và chuẩn so sánh; khả năng thiết lập các mục tiêu và thực hiện các mục tiêu đó; khả năng thỏa mãn yêu cầu và nguyện vọng của khách hàng và những người hưởng lợi; khuynh hướng tiến đến sự hoàn hảo” [5, tr.38]. Như vậy, tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu với vị trí, cương vị khác nhau, cách tiếp cận khác nhau mà các yếu tố có thể được ưu tiên khác nhau. Và bản thân là giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy nên tôi đề cao yếu tố “chất lượng đào tạo là khả năng thảo mãn yêu cầu và nguyện vọng của khách hàng và những người hưởng lợi”. Bởi thực tế cái đích cuối cùng của đào tạo đại học là thỏa mãn mong muốn được sở hữu kiến thức, kỹ năng nghề của người học; đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng; cung cấp nguồn nhân lực “vừa hồng, vừa chuyên” nhằm phục vụ sự phát triển của địa phương, đất nước. Và để hiện thực hóa yêu cầu này thì nhà trường và bản thân người dạy cần có sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học.

Có câu nói nổi tiếng: “Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn”. Qua câu nói này, chúng ta thấy rằng vai trò của nhà giáo không phải là truyền đạt kiến thức một cách thụ động, “bắt ép” người học tiếp nhận tri thức một cách khiên cưỡng mà vai trò quan trọng của người “đưa đò” là biết khơi dậy niềm đam mê, sự chủ động, hứng thú trong lĩnh hội kiến thức, biết “khai phá” năng lực tiềm năng trong bản thân người học. Từ đây, người học biết vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách linh hoạt vào giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Và để đạt được điều này, các trường đại học cần phải áp dụng ngay phương pháp dạy học tích cực theo hướng tiếp cận năng lực người học. Để thấy được tầm quan trọng của phương pháp dạy học này cũng như sự tất yếu cần đổi mới trong giáo dục, chúng ta có bảng so sánh giữa phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học và phương pháp dạy học truyền thống như sau:

 

Các thành tố

Phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học

Mục tiêu

- Chú trọng cung cấp tri thức

- Người học cần nắm bắt được tri thức, kỹ năng và thực hiện được các kỹ năng.

- Qua đó có thể tự hình thành các năng lực theo từng chủ đề. Thể hiện sự tiến bộ vận dụng kiến thức đã học vào thực tế

- Có thái độ tích cực, đam mê môn học, ngành học

Nội dung

- Người học học các nội dung quy định sẵn, và phát triển theo các kiến thức đã được truyền đạt một cách thụ động, không gắn với các tình huống thực tế để xử lý.

- Nội dung người học được truyền thụ chủ yếu từ sách giáo khoa, giáo trình và giáo viên.

- Người học được truyền đạt những nội dung định hướng nhằm đạt được các đầu ra quy định.

- Nội dung kiến thức được lĩnh hội từ nhiều nguồn khác nhau: Sách vở, giáo viên, từ thực hành, thực tế, mạng xã hội, bối cảnh xã hội…

- Và trong quá trình học được sử dụng kiến thức để xử lý và giải quyết các tình huống thực tế nảy sinh.

Phương pháp

- Giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều

- Người học thụ động tiếp thu kiến thức đã được quy định sẵn.

- Giáo viên làm mẫu phân tích, hướng dẫn người học luyện tập theo các phương pháp truyền thống

- Giáo viên đóng vai trò định hướng, hỗ trợ, tổ chức các hoạt động và đánh giá người học.

- Giáo viên thực hiện nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm tăng tính tương tác, phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của người học như: Thuyết trình, thảo luận nhóm, dạy học bằng phương pháp đặt ra tình huống để người học xử lý, dạy học theo sơ đồ tư duy trí tuệ…

- Người học tự giác, chủ động tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo trong tiếp nhận tri thức, giải quyết các vấn đề. Đồng thời bản thân người học tham gia vào việc tự đánh giá, tự điều chỉnh.

- Qua đây hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ học tập.

Hình thức tổ chức lớp học

- Lớp học cố định trong 4 bức tường, người học ngồi yên lặng nghe giáo viên truyền đạt

- Lớp học linh động tùy theo từng chủ đề, nội dung buổi học. Sinh viên có thể học ở lớp, ở phòng thực hành, phòng thí nghiệm, đi thực tế tại cơ quan, doanh nghiệp, điền dã, học ở hiện trường, học cá nhân, học theo nhóm…

Kiểm tra - Đánh giá

Đánh giá dựa trên tiêu chí có sẵn, và chỉ yêu cầu người học tái hiện lại hình thức và kiến thức đã được học

Đánh giá cả quá trình học tập của người học và đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhau, Coi trọng đến khả năng hình thành năng lực và vận dụng để giải quyết tình huống.

  Qua bảng so sánh trên, chúng ta thấy rõ sự khác nhau giữa hai phương pháp dạy học và từ đây chất lượng đào tạo cũng sẽ khác nhau. Với phương pháp dạy học truyền thống, người học tiếp nhận tri thức một chiều nên hình thành thói quen chây ỳ, thiếu sự chủ động trong học tập và tìm kiếm tri thức mới, hơn nữa sẽ làm thui chột tư duy sáng tạo. Đồng thời nó hình thành thói quen chờ được “dọn sẵn” nên thiếu sự năng động trong cuộc sống. Mặt khác, kiến thức tiếp nhận được chỉ thông qua việc nghe giảng từ người dạy, học thuộc mà không được thực hành, vận dụng ngay thì lượng kiến thức còn lại trong bộ não người học là rất ít. Chính vì vậy, sinh viên sau khi ra trường thiếu các kỹ năng cần thiết, việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn còn kém lại thiếu tư duy sáng tạo.

Ngược lại với phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học, lúc này vị trí trung tâm của người dạy đã được chuyển ngôi sang người học. Người dạy thay vì cung cấp kiến thức theo cách “thầy đọc trò chép” thì giờ đây vai trò quan trọng của người thầy là tổ chức lớp học, gợi mở, nêu vấn đề để sinh viên là người khám phá và tìm ra kết quả. Đồng thời, nếu theo phương pháp dạy truyền thống thì kiến thức sinh viên có được chỉ thông qua việc nghe thì theo phương pháp dạy học tích cực người học lĩnh hội tri thức qua nhiều hình thức từ được nghe, được thấy và được làm. Như vậy, với phương pháp dạy học này đòi đỏi các bạn sinh viên phải học đi đối với hành, có tinh thần tự học cao, biết tìm kiếm và xử lý thông tin… Qua đây giúp người học bộc lộ các năng lực, phát huy tính tự tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo và tinh thần học tập suốt đời. Không những thế còn giúp các bạn sinh viên “sở hữu” các kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giải quyết vấn đề… Mặt khác, với phương pháp dạy học mới, người thầy còn là người truyền lửa, biết thắp sáng những đam mê và giúp các bạn trẻ nhận thấy được năng lực tiềm ẩn của bản thân để phấn đấu.

Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học là nhiệm vụ cần kíp của các trường đại học nói riêng và các cấp, các bậc học nói chung nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần quan trọng đổi mới toàn diện nền giáo dục nước nhà.

2.2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia

Có câu nói rằng: “Chỉ có những quốc gia thu hút những cái đầu vĩ đại hoặc coi trọng giáo dục mới có thể trở nên giàu có”, như vậy chiến lược giáo dục đúng đắn là vũ khí tối quan trọng để xây dựng đất nước trở nên hùng mạnh. Nhưng nền giáo dục của nước ta nói chung và bậc đại học nói riêng đang rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Đó là tình trạng người học được tiếp cận rất nhiều kiến thức nhưng chủ yếu là lý thuyết suông mà ít được thực hành để vận dụng vào thực tiễn, ít được đi thực tế để trải nghiệm. Mặt khác, bản thân người học lại không đặt ra mục tiêu trong học tập nên thiếu động lực và thụ động trong tiếp nhận tri thức, thiếu tư duy sáng tạo, khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu. Chính vì vậy sau khi rời ghế nhà trường với tấm bằng cử nhân trong tay nhưng sinh viên không xin được việc làm đúng ngành nghề, thẫm chí phải cất bằng để làm công nhân tại các khu công nghiệp không phải là chuyện hiếm. Và trường hợp sinh viên với tấm bằng loại giỏi nhưng trầy trật khi xin việc do không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng cũng rất nhiều. Đồng thời, nhiều cử nhân khi được nhận vào làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp thì vẫn phải đi tào tạo lại. Đây thực sự là bức tranh ảm đảm về chất lượng giáo dục và trình độ, tương lai nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay.

Đứng trước thực trạng trên buộc nhà trường, người dạy, người học phải thay đổi cả trong tư duy và trong cách làm để “Xây dựng nền giáo dục mới, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt”. Và để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi chương trình đào tạo phải bám sát nhu cầu lao động của xã hội nhằm tránh tình trạng nhà trường tuyển sinh những ngành nghề mà xã hội ít có nhu cầu dẫn đến thừa nguồn nhân lực và dạy thừa lý thuyết nhưng thiếu thực hành dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường không thạo việc, không có kinh nghiệm thực tiễn nên xin việc rất khó khăn. Do đó việc chỉnh sửa chương trình đào tạo, đề cương chi tiết các môn học cần cụ thể hóa các kỹ năng mà sinh viên cần đạt được cũng như thay đổi phương pháp giảng dạy từ truyền thống sang tiếp cận năng lực người học là cần thiết và bắt buộc. Điều này góp phần quan trọng để tăng năng lực con người trong nền kinh tế mới: nền kinh tế tri thức và cách mạng 4.0 hiện nay.

Như vậy, đổi mới chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia nhằm đào tạo nguồn nhân lực vững vàng về chuyên môn, đồng thời có khả năng sáng tạo, thích nghi nhanh trong môi trường làm việc năng động với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Và để đạt được kết quả này, cần thiết phải thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực, đào tạo thực hành, thực nghiệm song hành cùng lý thuyết để người học trải nghiệm, tiếp cận với ngành nghề của mình ngay khi ngồi trên ghế nhà trường. Đồng thời với phương pháp dạy học tích cực, sinh viên bắt buộc phải bỏ thói quen chây ỳ và dần dần hình thành tinh thần tự học cao. Không những thế, với phương pháp dạy học mới, người học không bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định nên người học được thể hiện quan điểm, điều này sẽ giúp sinh viên phát huy tính sáng tạo khi làm việc.

2.2.3. Nâng tầm thương hiệu nhà trường

Ngày nay khi khâu tuyển sinh của các trường gặp rất nhiều khó khăn thì việc nâng tầm thương hiệu, mức độ uy tín của nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút người học. Bởi về cơ bản thương hiệu trường đại học có giá trị cũng tương tự như thương hiệu của mọi doanh nghiệp và tổ chức. Nó được thể hiện qua tên giao dịch của trường, gắn liền với bản sắc riêng, uy tín và hình ảnh của nhà trường nhằm gây dấu ấn sâu đậm đối với người học, đối tác, nhà tuyển dụng và phân biệt với các trường khác trong hoạt động đào tạo. Hay nói cách khác, thương hiệu của một trường chính là nhận thức của người học, giảng viên, cán bộ nhân viên nhà trường, đối tác hợp tác, nhà tuyển dụng và cả xã hội với hình ảnh mà một trường đại học có được qua những gì họ cung ứng cho xã hội. Và chính việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học là một yếu tố quan trọng góp phần nâng tầm thương hiệu của nhà trường. Bởi với việc giảng dạy theo phương pháp tích cực này, nhà trương sẽ nâng cao chất lượng đào tạo, các bạn sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong xin việc và mức độ hài lòng các nhà tuyển dụng sẽ cao hơn. Qua đây uy tín của nhà trường được nâng cao, chất lượng đào tạo của nhà trường được khẳng định và nó sẽ là tiêu chí để thu hút người học.

2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học

2.3.1. Về phía nhà trường

Để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo nguồn nhân lực với nhu cầu lao động xã hội cũng như việc nâng cao uy tín của mình thì nhà trường cần phải đổi mới nội dung chương trình đào tạo, xây dựng nội dung học phần đảm bảo bám sát yêu cầu của thị trường lao động và đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học. Như thiết kế lại chương trình học sao cho thời gian thực tế, thực hành của sinh viên tăng lên nhằm tạo điều kiện cho các bạn sinh viên biết việc, thạo việc khi chưa rời ghế nhà trường. Đồng thời nhà trường cần linh hoạt hơn trong việc tính giờ chuẩn của tiết học thực hành cho giáo viên và tạo điều kiện thuận lợi để trong từng môn học giáo viên có thể đưa sinh viên đi thực nghiệm để nắm bắt tốt hơn kiến thức từng môn học. Và để thực hiện được điều này, các trường đại học cần tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội. Nhà trường hãy xem sinh viên là khách hàng, hãy “lắng nghe tiếng nói” của nhu cầu thị trường lao động để đào tạo được nguồn nhân lực làm được việc, làm hài lòng các nhà tuyển dụng, đáp ứng được nhu cầu xã hội. Do đó, một giải pháp đặt ra là các trường đại học cần thiết lập được hệ thống các yếu tố đảm bảo chất lượng và hàng năm cần tiến hành khảo sát để có được thông tin hữu ích. Và dữ liệu chúng ta cần thu thập thông tin bao gồm: Đánh giá của thông tin về chương trình, về giảng viên, bài giảng…; sự tiến bộ của người học; tỷ lệ sinh viên ra trường và bỏ học; tỷ lệ sinh viên ra trường làm đúng chuyên ngành; phản hồi từ thị trường lao động; phản hồi từ cựu sinh viên. Từ các thông tin này, nhà trường tiến hành phân tích, đánh giá và trên cơ sở đó ra các quyết định hay điều chỉnh chương trình học, phương pháp giảng dạy, thẫm chí là xóa bỏ hay mở thêm ngành học mới (ngành học mới phải phù hợp với mục tiêu, chức năng của nhà trường; đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất đảm bảo) nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu người học và nhu cầu lao động xã hội cần.

Đồng thời, nhà trường cần đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật như phòng học, máy chiếu, phòng thực hành đầy đủ trang thiết bị… để giúp công tác giảng dạy theo phương pháp tích cực đạt hiệu quả cao. Đồng thời cần đầu tư cơ sở dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, học tập của giảng viên và sinh viên trong trường bởi với phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học đòi hỏi sinh viên phải chủ động tìm tòi, nghiên cứu tài liệu. Vì vậy, nhà trường cần xây dựng tài liệu học tập mở, cập nhật giáo trình, tài liệu mới và đa dạng các nguồn tìm kiếm.

Mặt khác, nhà trường cần kết nối tốt với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để tạo điều kiện cho sinh viên tới thực tế, thực tập. Đồng thời, quan hệ tốt với đối tác và doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho sinh viên ra trường có việc làm, từ đó tạo điều kiện cho trường phát triển. Không những thế, chúng ta có thể tham khảo ý kiến của nhà tuyển dụng trong việc xây dựng chương trình đào tạo của ngành học nhằm bám sát nhu cầu thực tiễn của xã hội.

2.3.2. Về phía giảng viên

Song hành cùng việc đổi mới phương thức đào tạo của nhà trường, người dạy cần thay đổi quan điểm và phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Giờ đây, thay vì cho rằng người thầy là trung tâm trong hoạt động dạy học và thực hiện truyền tải tri thức một chiều thì giảng viên cần chuyển vị trí trung tâm trong dạy học cho sinh viên để phát huy tính chủ động của người học và là người “cởi trói” tư duy tiếp nhận tri thức một chiều. Vì vậy, người thầy cần có quan điểm dạy học mới: Giảng dạy là khai thác và nuôi dưỡng nội lực của sinh viên để họ sẽ tự học suốt đời và tạo ra thói quen rèn luyện tư duy, kĩ năng phân tích vấn đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức, xử lí thông tin ở người học.

Giáo viên cần sáng tạo, linh hoạt trong việc áp dụng và lồng ghép các phương pháp giảng dạy nhằm thay đổi không khí học tập, tạo hứng thú cho sinh viên trong tiếp nhận kiến thức. Đồng thời, theo mục tiêu, nội dung của môn học hay từng chương, từng phần cụ thể mà giáo viên có thể thiết kế buổi đi thực tế: đưa sinh viên tới các cơ quan, doanh nghiệp hay khảo sát thực địa… để nâng cao hiệu quả học tập từ việc lĩnh hội tri thức thông qua quá trình nghe - nhìn và thực hành các kỹ năng trong từng môn học.

Người thầy cần có các biện pháp nhằm tạo động lực cho người người học, là người truyền ngọn lửa đam mê trong việc khám phá, chinh phục tri thức như: tôn trọng các nhận định, quan điểm của người học; có lời động viên, khen ngợi khi sinh viên trả lời đúng, hăng say phát biểu, thảo luận bài; cộng điểm vào ý thức, thái độ học tập. Đồng thời một biện pháp hữu hiệu nhưng lại ít thầy cô lưu tâm đấy chính là cố gắng nhớ tên các bạn sinh viên và hãy gọi họ với tên riêng đó. Bởi với mọi người, tên riêng là ngôn ngữ quan  trọng và êm ái nhất nên điều này khiến các bạn sinh viên thấy rằng mình được quan tâm và cố gắng trong học tập nhằm tạo ấn tượng tốt với tên riêng của mình trong trí nhớ của thầy cô… Và khi sinh viên có động lực trong học tập họ sẽ chủ động, tích cực trong nghiên cứu, tự khám phá các tri thức mới.

Mặt khác, không chỉ trông chờ vào mối quan hệ của nhà trường với các tổ chức, doanh nghiệp mà bản thân đội ngũ giảng viên cũng cần năng động trong việc khai thác các mối quan hệ với đối tác và doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện đưa sinh viên tới thực tế và tăng cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi ra trường.

2.3.3. Về phía người học

Để phát huy hiệu quả phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học đòi hỏi cần có sự “cộng tác” của người học với người dạy. Bản thân các bạn sinh viên phải xác định được muc tiêu, nhiệm vụ học tập; cần bỏ thói quen chây ỳ trong học tập, thói quen tiếp nhận tri thức một chiều và thay vào đó phải chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự giác trong học tập, nghiên cứu các vấn đề.

Đồng thời sinh viên cần có kỹ năng quản lý thời gian vì thời gian là vàng bạc nhưng nhiều bạn sinh viên để nó trôi qua rất lãng phí, thay vì giành thời gian đọc sách, lên thư viện để tự nghiên cứu tiếp cận tri thức, học thêm các khóa đào tạo ngoại ngữ, tin học hay đi làm thêm để bổ sung các kỹ năng nghề nghiệp thì nhiều bạn giành thời gian để ngủ, lướt web, facebook, zalo… Vì vậy ngay lúc này các bạn sinh viên cần lên kế hoạch cho việc sử dụng quỹ thời gian hàng ngày của mình một cách hiệu quả, hãy dùng nó để phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện các kỹ năng để chinh phục các nức thang tri thức và chuẩn bị hành trang bước vào nghề sau khi tốt nghiệp.

3.    Kết luận

Có câu nói rằng: “Nếu đất nước nào thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế” hay “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới” để nói lên tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển và tầm ảnh hưởng của quốc gia trên trường quốc tế. Đồng thời đứng trước thực trạng với nhiều hạn chế của nền giáo dục nước nhà nên vấn đề đổi mới chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia hiện nay, trong đó có đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học. Vì vậy các trường đại học phải xem đó là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết cần triển khai ngay bởi chất lượng giáo dục sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Không những thế, việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo và nâng tầm thương hiệu của nhà trường. Tuy nhiên để thực hiện thành công phương pháp này cần có sự phối hợp đồng bộ từ nhà trường, người dạy và người học. Như một câu nói đã chỉ ra: Nhiệm vụ của một trường đại học tiến bộ không phải là cung cấp những câu trả lời thích hợp, mà chính phải là đặt ra các câu hỏi thích hợp” và “Người thầy thực sự hiểu biết không bắt bạn bước vào ngôi nhà tri thức của thầy, mà hướng dẫn bạn đến ngưỡng của tư duy và tri thức của bạn”. Và đối với người học hãy ghi nhớ Người nào chỉ biết ngồi nghe giáo sư giảng chứ bản thân mình trong lòng không cảm thấy khát khao đọc sách, không tự tìm hiểu, nghiên cứu thì có thể nói tất cả những điều người ấy nghe giảng ở trường đại học cũng sẽ chỉ như một tòa nhà xây trên cát mà thôi. Và khi “ba móc xích” này cùng nhau quyết tâm thay đổi cách dạy, cách học thì các cơ sở đào tạo sẽ thoát khỏi lối tư duy dạy học truyền thống để thực hiện phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học đạt hiệu quả cao nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông môn ngữ văn, Nxb ĐHQG, Hà Nội

2.    Ngô Công Hoàn (1997), Những trắc nghiệm tâm lý (tập 2), Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội

3.    Bùi Ngọc Hồ (2008), Những vấn đề lý luận giáo dục, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

4.    Huỳnh Văn Sơn (2011), Giáo trình Tâm lý học giao tiếp, Nxb Đại học Sư phạm Tp. HCM

5.    Trường Đại học Sư phạm Huế (2013), Đánh giá trong giáo dục Đại họcTài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục Đại học.

6.    Hoàng Hòa Bình, Năng lực và đánh giá theo năng lực, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm TPHCM. Truy cập ngày 20/4/2019 trên trang web www.vjol.info/index.php/sphcm/article/view/19692/17318

7.    Web: http://www.vvob.be/vietnam

    Nguyễn Thị Nga

 
Tổng quan