Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
Trang chủ ❯ Giới thiệu ❯ Khoa  ❯ Khoa Khoa học XH&NV ❯ Chi tiết
       
  07/11/2018 09:50        

Một giấc mơ trong một số tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986

MOTIF GIẤC MƠ TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986
                                                                 ThS. Phan Thúy Hằng 

1. Đặt vấn đề
Theo Frued, tác phẩm văn học, trước hết là mô%3ḅt giấc mơ. Giấc mơ là mô%3ḅt trạng thái tâm lý do những ham muốn bị dồn nén, tiếp tục tồn tại trong vô thức và chúng chỉ có thể ùa vào ý thức với điều kiê%3ḅn đã ngụy trang để tránh khỏi kiểm duyê%3ḅt, là “mô%3ḅt kiểu chơi của trẻ con, không khác gì mô%3ḅng giữa lúc thức” [9, tr.38], “biểu tượng của cuô%3ḅc phiêu lưu cá thể, được cất sâu trong tâm khảm… Chiêm mô%3ḅng hiê%3ḅn ra với chúng ta như mô%3ḅt điều bí ẩn của chính mình” [2, tr.17]. Ngoài phần ý thức, con người còn có vô thức, tiềm thức và tâm linh. Vì vâ%3ḅy, giấc mơ thường được coi là sự tái hiê%3ḅn suy nghĩ của con người dưới dạng không tự giác, là điểm báo trước cho tương lai. Sự biến ảo linh hoạt của thủ pháp “giấc mơ” làm cho cốt truyện có độ lắng, điểm nhấn, cũng là chìa khóa để mở cửa bước vào thế giới sâu kín của con người. Chỉ trong vô thức của giấc mơ, mọi khuất lấp, mật mã mới hiện hình thành những gương mặt, thông điệp và tiếng nói. Dân gian tin rằng, giấc mơ là một điều gì đó có tính chất dự đoán, thậm chí là nơi, cách thức gặp gỡ của người sống với người chết, người chết trong vai trò kẻ tiên lượng sẽ cảnh báo, dặn dò những bất trắc ở tương lai. Đây là motif huyền thoại dựa trên quan niệm về “cái vô thức” trong cấu trúc tâm lí con người. Đó cũng là yếu tố quan trọng của tư duy huyền thoại. Trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000, sự biến ảo linh hoạt của thủ pháp “giấc mơ” làm cho cốt truyện có độ lắng, điểm nhấn, cũng là chìa khóa để mở cửa bước vào thế giới sâu kín của con người. Tìm hiểu motif này là cách thức giúp người nghiên cứu giải mã những thông điê%3ḅp mà nhân vâ%3ḅt hay tác giả gửi gắm, kiến giải sự lạ hóa trong cách thức xây dựng cốt truyê%3ḅn của tiểu thuyết sau đổi mới. Nhiều tiểu thuyết sau 1986 đã sử dụng motif giấc mơ, giấc chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con người. Thủ pháp này thể hiện rõ trong các tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Người đi vắng, Vào Cõi, Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phương), Đêm thánh nhân (Nguyễn Đình Chính)...
2. Nội dung
2.1. Trước hết motif giấc mơ thường thể hiện sự dồn nén và những ẩn ức trong thế giới nội tâm của con người. Cuộc đời hậu chiến của Kiên trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh luôn chìm đắm trong hoài niệm với những giấc mơ triền miên về quá khứ: “Gần như toàn bộ cuộc đời chiến đấu với cả một đạo quân những người đã chết mà anh từng gặp gỡ trong chiến trận đã trở về với anh qua những cánh cửa vòm cuốn mờ tối của giấc mơ dài không dứt” [4, tr.27]. Trong quá khứ, những giấc mơ về Phương về Hà Nội đã ám ảnh Kiên rồi. Sự dồn nén của ngày đầu bước vào cuộc chiến làm cho Kiên ngập tràn mộng mị, những giấc mơ lay thức tâm hồn: “Những giấc mơ đậm đặc cảm giác, nóng bỏng ngọt vị như mật ứa ra trào lấp đầy cõi mộng mị” [4, tr.32]. Những giấc mơ tình yêu luôn hiện về giữa những cái chết, giữa tai hoạ, khổ đau. Có người cho rằng, tiểu thuyết của Bảo Ninh là “một giấc mơ dài, một huyền thoại của thời đại”. Bởi nó được “hình thành trong bóng đêm, trong cơn say, trong điên khùng và hoảng loạn, từ vô thức, man rợ, từ nỗi buồn tình yêu và nỗi buồn chiến tranh” [4, tr.174]. Trong tác phẩm, mười bốn lần nhà văn nói về những giấc mộng của Kiên: mộng trong chiến tranh, mộng giữa đời thực, mộng trong lúc chiến đấu và mộng trong hoà bình. Cơ chế đó trong Phân tâm học gọi là sự chuyển di. Những giấc mơ ấy là chiếc cầu nối để Kiên đi về giữa hai bờ ảo - thực, hiện tại và quá khứ. Bởi với Kiên “Chỉ cần nhắm mắt lại là trong tôi lập tức kí ức tự nó xoay mình lui về theo lối cũ, gặt toàn bộ cõi đời thực hôm nay ra rìa cỏ” [4, tr.48]. Quá khứ trong anh đã trở thành một giấc mộng dài không khi nào chấm dứt: “Suốt đêm tôi sống lại với cuộc đời của trung đội trinh sát, từng ngày một, từng kỉ niệm một, từng người một, lần lượt, từ từ rành rọt như những thước phim quay chậm” [4, tr.49]. Kiên không chỉ sống trong mộng mị mà còn đắm chìm trong ký ức: “Trở về sau chiến tranh, cho đến tận bây giờ, tôi đã phải chịu đựng hết hồi ức này đến hồi ức khác, đêm thâu này tới đêm thâu kia...thử hỏi đã bao năm ròng?” [4, tr.50]. Trong tác phẩm, chúng ta bắt gặp hơn mười lần nhà văn lặp đi lăp lại từ “ám ảnh”. Đó chính là lý do khiến Kiên trở thành nhà văn, để viết về cuộc đời chiến trận đã đi qua “Viết để quên đi, viết để nhớ lại. Viết để có một cứu cánh, một niềm cứu rỗi, để mà chịu đựng, để giữ lòng tin, để mà còn muốn sống” [4, tr.167]. Đối với Kiên, việc viết văn đó là thiên mệnh “chính bởi thiên mệnh ấy mà anh đã có một tuổi thơ như thế, một tuổi hoa niên, một thời chiến trận như thế...” [4, tr.55]. Việc đan cài các giấc mơ trong cuộc đời Kiên đã dệt nên một bức tranh hiện thực đầy màu sắc huyền thoại. Bởi anh luôn sống trong vô thức, tiềm thức và ý thức đan xen. Cho nên hiện thực ấy không nguyên vẹn mà bị tách rời, chắp nối, thể hiện sự bấn loạn trong thế giới nội tâm đầy phức tạp. Và chỉ trong hồi ức và những giấc mơ Kiên mới là chính mình, sống đời sống của riêng mình mà không cảm thấy lạc lõng, cô đơn.
2.2. Bên cạnh đó, motif giấc mơ có khi gắn liền với những điềm báo, tiên tri thể hiện sự thần giao cách cảm giữa người sống với người chết, những người có quan hệ đặc biệt với nhau. Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương luôn sống trong những giấc mơ biến ảo chập chờn như vậy. Giấc mơ của Tính, của Hiền, của cụ Điển… Tất cả đều hiện lên tương đối rõ nét như một dự cảm, điềm báo “Ông đã mơ thấy Cụ về, Cụ dắt theo cả bà chúng mày nữa, Cụ giận lắm, không muốn cho phá cái nhà này đâu” [6, tr.50]. Những điềm báo còn được thể hiện qua linh cảm và một số biểu hiện bất thường khác như cảm giác bất an khi có con vật lạ xuất hiện bất thường, thường là đom đóm, bươm bướm, hay đơn giản chỉ là một cái rùng mình. Trong Những đứa trẻ chết già, Chí trước đêm chiến đấu có linh cảm không lành, đột nhiên thay đổi thái độ, giả vờ ốm, không muốn ra trận: “- Tao ốm...Đêm nay tao không thích. Mai tao đi. - Tao chán, tao đang nhớ nhà...Tao linh cảm có điều không lành sẽ đến với mình. Tao mơ thấy cây si… [5, tr. 86]. Cây si đầu làng trở thành biểu tượng của sự chết chóc, là nơi tìm về, ẩn náu của những hồn ma phiêu bạt. Chí mơ thấy cây si hẳn là một điềm báo chẳng lành. Quả nhiên, giấc mơ cuối cùng trong cuộc đời của anh đã ứng nghiệm. Chí đã chết trong trận đấu ngay đêm đó, để lại cho nhân vật “ông” một ám ảnh, day dứt đến tận bây giờ. Có thể thấy, hầu hết các nhân vật của Nguyễn Bình Phương đều có linh cảm khá chính xác. Đặc biệt, có một lớp người còn có những năng lực đặc biệt như mụ Đông điên trong Vào cõi, là Bào mù, cô gái tên Lình trong Những đứa trẻ chết già…Mụ Đông điên được nhận định là “mụ thiêng vô cùng! Người ta đồn thổi nhiều chuyện linh ứng của lời mụ” [7, tr.22]. Bào mù có thể nghe và thấy được những việc hệ trọng sắp xảy ra dù bị mù, Lình cảm nhận được chính xác thế giới bên kia với những hồn ma đang di chuyển. Trong dân gian, có lẽ vì chưa lí giải được các hiện tượng kỳ bí nên người ta dùng tâm linh để giải thích. Dần dần, nó trở thành tâm thức cố hữu, một niềm tin thần thánh trong con người truyền đời này qua đời khác vẫn được bảo lưu. Cuộc sống hiện đại, phần vì tiếp nhận quan niệm xưa cũ, phần vì những bộn bề lo toan, những bất trắc bủa vây, rình rập, con người luôn có cảm giác bất an, sợ hãi, dẫn đến những dự cảm không lành. Trong tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, Mai Trừng cũng hay mơ những giấc mơ đầy linh cảm như thế. Và tất cả những gì diễn ra trong mơ sau này đều có ở hiện thực trên đường cô đi tìm mộ ba mẹ. “Những ngày ở đây, thỉnh thoảng Mai Trừng lại mơ thấy có một bóng người đến dẫn cô đi. Đi qua một con đường lớn và dài. Rồi rẽ ngoặt vào một lối đi hỏ trong rừng...Đến bên một con suối cạn thì bóng người dẫn đường biến mất” [8, tr.218]. Mai Trừng cảm thấy đó giống như một điều linh báo. Giấc mơ là sự linh cảm của con người. Từ nỗi lo lắng, ám ảnh của hiện thực, Mai Trừng đã nhìn thấy ngôi mộ của cha mẹ mình trong mơ và đi theo những chỉ dẫn trong giấc mơ cô đã tìm thấy mộ cha mẹ và hóa giải lời nguyền đi trừng phạt cái ác suốt hai mươi sáu năm qua của cô. Giấc mơ vọng về từ vô thức, phản ánh tâm tư sâu kín của một tâm hồn trăn trở và dằn vặt.
2.3. Hơn nữa, có một điều dễ nhận thấy, đó là motif giấc mơ thường mang màu sắc tôn giáo, bô%3ḅc lô%3ḅ niềm tin, tín ngưỡng hay gửi gắm khát vọng công bằng, hạnh phúc của con người chứ chưa phải là đời sống tinh thần của con người trong thế giới hiê%3ḅn thực. Xuất hiê%3ḅn trong những tiểu thuyết hiện đại, đặc biệt những tiểu thuyết về sau này, giấc mơ trở thành phương thức tự sự hiệu quả trong việc thể hiện đời sống tâm - sinh lý của con người: Trong tiểu thuyết Đêm thánh nhân của Nguyễn Đình Chính, những giấc mơ tình dục của nhân vật bác sĩ Cần bộc lộ mặc cảm tàn phế. Tư Vọc (Lão Khổ) ngày trước theo Chánh tổng Tạ làm quá nhiều viêc ác. Dù đã trốn chạy khỏi làng Đồng hơn ba mươi năm, nhưng khi trở về những ám ảnh về những tội ác trong quá khứ đã biến thành những ác mộng hành hạ ông ta hàng đêm: “Đêm đến với ông Tư là nỗi khủng khiếp không nơi ẩn náu. Có cảm giác cửa âm ti mở ra và bầy ma quỷ tràn lên bao bọc lấy ông” [1, tr.176]. Và chính trong những đêm tràn đầy ác mộng ấy, Tư Vọc đã giết chết em trai mình. Những hồn ma của những người đã chết hiện lên trong những giấc mơ của Tư Vọc là biểu trưng của cái ác do chính người sống tạo ra, ám ảnh về những tội ác của họ. Trong Bến không chồng, nỗi đau mất chồng mất con, đã khiến chị Nhân bị ám ảnh và gặp ác mộng hàng đêm: “chị liên tục mơ thấy chồng về, anh ấy cứ lặng lẽ đứng bên giường chị mà chẳng nói gì cả”, rồi bất ngờ “chồng chị nhảy bổ lên giường đè sấn người chị, chị thấy mình chìm nghỉm xuống vực thẳm, chân tay chị tê dại” [3, tr.30]. Chị đau đớn khi trong những giấc mơ ấy chồng con cứ về trách mắng khiến chị càng ân hận và xót xa “Đêm chị nằm mơ thấy cả ba bố con nó dẫn nhau về oán trách. Chị nhìn vào mắt chồng, mắt hai đưa con cứ cháy rực lên” [3, tr.259] Chị hiểu chiến tranh là mất mát, là hi sinh nhưng không ngờ sự mất mát ấy đổ dồn hết lên số phận mình, chị đau đớn tưởng chừng không sống nổi. Còn Hạnh, đứa con gái còn lại duy nhất của chị cũng mang trong lòng những phấp phỏng lo âu chung của những người vợ, người mẹ có chồng đi chiến trận. Chính những cái chết của bố, của anh trai khiến Hạnh đau đớn và ám ảnh, đêm nằm ngủ mơ thấy người hi sinh lại chính là chồng mình “Hạnh mơ thấy có giấy báo tử Nghĩa về xã nhưng họ vẫn dấu Hạnh” [3, tr.168]. Giấc mơ của chị Nhân, của Hạnh xuất phát từ chính thế giới nội tâm đầy ám ảnh về sự chết chóc và đau thương. Trong tiểu thuyết Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, giấc mơ của người mẹ gặp thiên thần đã dự báo cho sự ra đời của một bào thai. Nhân vật Đông trong Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái) cũng hay mơ về đứa con gái đã chết với nỗi ân hận không nguôi. Cho đến cuối cuộc đời, Đông vẫn luôn đau đớn và dằn vặt vì anh là một phần của nguyên nhân dẫn đến cái chết thảm thương của con gái “Một đêm trong cơn ác mộng, tôi thấy con gái tôi hiện về, dáng vẻ của một thiếu phụ, tay cầm một bó hoa hồng tua tủa gai. Con gái tôi nói rằng nó bị đầu độc. Có gì lạ đâu, nó nói thêm, con người vẫn tiếp tục đầu độc nhau đấy thôi” [8, tr.134]. Những giấc mơ ấy chính là nỗi ám ảnh về một quá khứ không lành lặn của Đông, về những thương tổn tâm hồn mà cho đến cuối đời, anh vẫn không thể nào tha thứ. Như vậy, giấc mơ đã “có nội dung”, bản thân nó đã trở thành cốt truyện. Nội dung giấc mơ là một cốt truyện nhỏ nằm trong cấu trúc truyện trước và sau khi xảy ra giấc mơ. Đến khi nhân vật tỉnh giấc, thoát khỏi ảo mộng, trở lại cuộc sống thực tại cũng là lúc chấm dứt một phần quan trọng của toàn bộ nội dung thiên truyện.
Ngoài ra, thế giới chiêm bao là thế giới của các biểu tượng. Khi đưa giấc mơ vào tác phẩm văn học, các nhà văn đã có ý thức xây dựng các biểu tượng nghê%3ḅ thuâ%3ḅt để diễn tả sắc nét những chấn thương trong tâm hồn nhân vâ%3ḅt và tạo nên những tác phẩm có ý nghĩa thẩm mỹ. Giấc mơ của Kiên về những ám ảnh của chiến tranh với truông Gọi Hồn, hoa hồng ma (Nỗi buồn chiến tranh), hình ảnh thiên thần (Thiên thần sám hối), gò Ông Đổng (Bến không chồng)...Qua hệ thống biểu tượng này, những vấn đề thẳm sâu trong tâm linh nhân vâ%3ḅt được hiển thị và mang tính đa nghĩa, đồng thời góp phần tạo ra giá trị thẩm mỹ cho tác phẩm và chuyển tải bức thông điê%3ḅp mang ý nghĩa nhân bản. Trong văn học trung đại, có thể thấy giấc mơ là một motif quen thuộc. Trong các truyện thơ như Phan Trần, Nhị độ mai, điềm báo “xà huỷ hùng bi” thường xuất hiện, nghĩa là cha mẹ mơ thấy rắn (huỷ xà) thì sẽ sinh con gái, mơ thấy gấu (hùng bi) thì sẽ sinh con trai: “Ứng điềm xà huỷ hùng bi - Hai nhà chính thất một kì thụ thai” (Phan Trần), “Hiếm hoi mới được mộng xà - Vân Tiên một gái mặt hoa khuynh thành” (Nhị độ mai). Mơ thấy rồng (Thạch Sanh), ngọc (Hương Lãm Mai đế ký - Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập), mặt trời (Tổ gia thực lục - Tam tổ thực lục) được giải là điềm sinh con quý. Ngoài ra, giấc mơ còn tạo nên con đường kết nối tương thông giữa con người với thế giới ma quỷ, thần linh. Những lực lượng siêu nhiên đó với phép thuật và khả năng thấu suốt tương lai mà người phàm không có khi xuất hiện trong giấc mơ thường mang đến cho loài người lời hứa hẹn về sự phù trợ hay các điềm báo. Trong các tập truyện ký trung đại như Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp), Thiên Nam minh giám (Khuyết danh)... thường sử dụng motif báo mộng - cách thức mà anh linh những bậc anh hùng, liệt nữ thường sử dụng để nối kết với người trần. Chẳng hạn,“vào thời Lý Nam Đế, quân Lâm Ấp cướp phá đất Nhật Nam, nhà vua đêm nằm mộng thấy một người đàn bà đội mũ trận, mặc áo giáp, tự xưng họ tên, xin theo quân đi đánh giặc.” (Lệ Hải Bà Vương ký -Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập - Gia Cát thị) và người phụ nữ ấy chính là Lệ Hải Bà vương Triệu Thị Trinh năm xưa từng khiến giặc Ngô khiếp sợ. Theo quan niệm của người Việt, nguyên nhân những giấc mơ đều do hồn phách lìa khỏi thân xác. Thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể, và rộng hơn, khỏi thế giới vật chất hữu hình, linh hồn có thể di chuyển giữa các chiều không gian như trong tác phẩm Ký đồn hoài đệ Thanh Hiên Tố Như tử, Nguyễn Đề hướng về Quỳnh Châu thăm người em trai cùng mẹ là Tố Như: “Nhất niên tiêu biệt ưng vô kỷ, Lưỡng địa tương tư lượng bất thù/ Hình ảnh tuy đao, đàm tiếu cận/ Mộng hồn dạ dạ hướng Quỳnh Châu”(Ký đồn hoài đệ Thanh Hiên Tố Như tử - Nguyễn Đề). Dịch nghĩa: “Xa nhau mới một năm chẳng đáng là bao/ Nhưng tình nhớ thương dù ở hai nơi cũng không đổi khác/ Hình bóng tuy xa, vẫn gần nhau trong tiếng cười giọng nói/ Đêm đêm mộng hồn vẫn hướng về Quỳnh Châu” (Gửi em trai cùng mẹ là Thanh Hiên, tự Tố Như). Như vâ%3ḅy, có thể thấy motif giấc mơ đã tồn tại từ trong tiềm thức của nhân dân và đi vào trong các tác phẩm văn học từ dân gian, trung đại và đến hiện đại như một quy luật tất yếu, phản ánh thế giới tinh thần phong phú của con người.
3. Kết luận
Sử dụng motif giấc mơ trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 các nhà văn chuyển tải được nhiều vấn đề và làm mới phương thức trần thuâ%3ḅt, góp phần thay đổi diê%3ḅn mạo cho văn học. Giấc mơ trong tiểu thuyết hiện đại được diễn tả rất rõ ràng, cụ thể, gắn kết với nhiều chiều kích không gian và thời gian, kết hợp nhiều yếu tố kì ảo, phi thực là phương thức bô%3ḅc lô%3ḅ nhân vâ%3ḅt đa diê%3ḅn, hàm chứa nhiều ý nghĩa, đồng thời phá vỡ cốt truyê%3ḅn truyền thống - tuyến tính theo mô%3ḅt trục kết cấu. Sự kết cấu đa tầng của những giấc mơ đã làm cốt truyê%3ḅn có mô%3ḅt chiều sâu rõ nét, không đi theo mô%3ḅt đường thẳng mà dường như bị bẻ gãy bởi sự nhâ%3ḅp nhằng của thế giới hiê%3ḅn thực và vô thức trong chiều sâu tâm linh con người, nơi chứa bao buồn vui và khát vọng. Chính từ những giấc mơ, hình ảnh con người cá nhân được bô%3ḅc lô%3ḅ trọn vẹn, có chiều sâu. Vì lẽ đó, sự xuất hiê%3ḅn của motif này trong tiểu thuyết giai đoạn này đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển, đổi mới và thành công của văn học đương đại.


Tài liệu tham khảo
1. Tạ Duy Anh (2014). Lão Khổ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
2. Jean Chevalier, Alain Cheerbrant (1999). Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du.
3. Dương Hướng (2015). Bến Không Chồng, Nxb Trẻ, Tp HCM.
4. Bảo Ninh (2007). Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Văn học, Hà Nội.
5. Nguyễn Bình Phương (2013). Những đứa trẻ chết già, Nxb Trẻ, Tp HCM.
6. Nguyễn Bình Phương (2013). Người đi vắng, Nxb Tổng hợp Tp HCM.
7. Nguyễn Bình Phương (2016). Vào cõi, Nxb Văn học, Hà Nội.
8. Hồ Anh Thái (2013). Cõi người rung chuông tận thế, Nxb Trẻ, Tp HCM.
9. Đỗ Lai Thúy (2000). Phân tâm học và văn hóa nghê%3ḅ thuâ%3ḅt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.



 

 
Khoa Khoa học XH&NV