Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
Trang chủ ❯ Giới thiệu ❯ Khoa  ❯ Khoa Khoa học XH&NV ❯ Chi tiết
       
  19/06/2020 15:37        

Kỹ năng, tiến trình trợ giúp, vai trò của nhân viên công tác xã hội trước các vấn đề thường gặp ở người cao tuổi

A. Mở đầu

Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động – thu nhập và cả trong những mối quan hệ, người cao tuổi bị hạn chế và mất thăng bằng trong việc thực hiện một số chức năng xã hội của mình. Người cao tuổi trở thành một đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và cần sự hỗ trợ của công tác xã hội.

Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội hướng trọng tâm nghề nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội. Các chức năng của công tác xã hội được thực hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tiến trình làm việc với các thân chủ. Người cao tuổi chính là một trong những đối tượng yếu thế trong xã hội và cũng là thân chủ cần sự giúp đỡ của công tác xã hội.

Trong khuôn khổ chuyên đề tác giả muốn đề cập tới kỹ năng, tiến trình trợ giúp và vai trò của nhân viên công tác xã hội trước các vấn đề thường gặp của người cao tuổi.

B. Nội dung

I. Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi

1. Đặc điểm sinh lý

a. Quá trình lão hóa

Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống. Lão hóa có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người. Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút. Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hướng đi xuống.

Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn. Da trở nên khô và thô hơn. Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn. Ở tuổi già có những nếp nhăn do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi. Các mạch máu mỏng vỡ ra, tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da

Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai dù thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng. Người cao tuổi thường chọn các thức ăn mềm

Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả.

Các cơ quan nội tạng:

Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao cùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể. Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá.

Phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng ôxy giảm. Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng với cũng giảm sút. Người già thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn. Người già dễ dàng bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể hạ thấp sẽ rủi ro nghiêm trọng cho sức khoẻ của họ. Họ cũng phải chịu đựng những khó khăn tương tự khi trong trường hợp cần thiết phải tiếp cận với nhiệt độ cao.

Khả năng tình dục giảm: Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ở người cao tuổi cũng giảm rõ rệt. Ở người già xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp, vụng về. Người già hay bị mệt mỏi, mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó khăn.

b. Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi

Người cao tuổi thường mắc các bệnh về:

  • Các bệnh tim mạch và huyết áp: Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim, loạn nhịp tim

  • Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…

  • Các bệnh về hô hấp: Cảm sốt, viêm họng – mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi …

  • Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu …

  • Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng…

  • Ngoài ra người cao tuổi còn hay mắc các bệnh về ung bướu, bệnh thần kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần…

2. Đặc điểm tâm lý

Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình. Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là:

a. Hướng về quá khứ

Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh ... Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…

b. Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”

Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi. Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới. Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”.

c. Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi

Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi có thể được liệt kê như sau:

- Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn: Con cháu thường bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình.

- Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng. Nhưng cũng có một số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu. Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình. Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau... nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường.

- Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu. Với một bộ phận người cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng... có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm. Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó.

- Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu... có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết.

Với những thay đổi chung về tâm lý của người cao tuổi đã trình bày ở trên dẫn đến việc một bộ phận người cao tuổi thường thay đổi tính nết. Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để đón nhận thực tế này nhằm có những ứng xử phù hợp.

II. Các lĩnh vực hoạt động và vai trò của người cao tuổi

1. Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của người cao tuổi

1.1 Giai đoạn đầu của người cao tuổi

Những người từ 60 – 69 tuổi. Giai đoạn này kéo theo nó những biến đổi quan trọng trong đời sống con người. Trong thời kỳ giữa những năm 60 và 70 tuổi, phần lớn trong chúng ta tất yếu phải thích ứng với việc phân bổ các chức trách. Nghỉ hưu, việc tự nguyện hay bắt buộc giảm số giờ lao động sẽ dẫn tới thu nhập. Bạn bè và một số đồng nghiệp qua đời. Những nhu cầu của xã hội giảm đi: những người tuổi trên 60 không còn sức khỏe, tính độc lập và tính sáng tạo như trước đây: Iren Becsai cho rằng sự phản ứng về mặt xã hội như thế có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của những người cao tuổi còn khỏe mạnh, sung sức, làm ngã lòng họ. Nhiều người 60 tuổi buộc họ phải tiếp nhận luật chơi làm nhịp độ cuộc sống riêng chậm đi, và do đó gián tiếp họ mong đời hy vọng vào xã hội.

Sức mạnh thể chất vào thời kỳ này cũng sút giảm và điều đó tạo ra những vấn đề phụ thêm cho những người đang tiếp tục làm việc trong ngành công nghiệp. Trong khi đó, nhiều người ở tuổi 60 sức lực còn sung mãn và còn đi tìm kiếm cho mình những loại hình hoạt động mới. Nhiều nam, nữ mới nghỉ hưu không lâu có sức khỏe tốt và trình độ học vấn cao. Họ còn có thể sử dụng thời gian nhàn rỗi của mình để tự hoàn thiện, củng cố sức khỏe, tham gia hoạt động xã hội hoặc chính trị. Một số thường xuyên luyện tập thể dục thể thao và sinh hoạt tình dục tích cực. Một số người hưu trí có thể trở thành những nhà từ thiện, nhà sản xuất và nhà giáo. Họ là những nhà quản trị tự nguyện của các hãng thương mại nhỏ, những người trợ giúp trong các bệnh viện, những ông nội bà nội.

Trong nhóm tuổi đang xem xét này có những sự khác nhau quan trọng có liên quan đến độ tuổi về hưu. Phần lớn trong số họ về hưu ở tuổi 65, cũng có một số người nghỉ việc ở tuổi 55, còn số khác lao động tới tuổi 75. Việc quyết định nghỉ hưu vào một độ tuổi nhất định là phụ thuộc vào sức khỏe của từng người, vào nghị lực và vào loại công việc mà họ làm. Đồng thời, con người có thể tiếp tục (hoặc kết thúc) hoạt động lao động của mình do hàng loạt nguyên nhân có liên quan tới những người xung quanh: Tình trạng sức khỏe của chồng (vợ), bạn bè dọn đi ở nơi khác, các yếu tố “bên ngoài” chẳng hạn như tình hình tài chính của gia đình. Một số người 68 tuổi có số tiền tiết kiệm nhỏ buộc phải làm việc tiếp để bù đắp chi tiêu cho mình, trong khi những người khác có thể nghỉ ngơi với số tiền hưu trí và thu nhập từ tiền tiết kiệm trước đó và bằng những khoản bảo đảm xã hội và ưu đãi khác.

1.2 Giai đoạn giữa của người cao tuổi

Những người có độ tuổi từ 70 đến 79 tuổi. Ở độ tuổi này con người thường gặp phải những biến cố quan trọng nhiều hơn so với hai thập niên trước. Nhiệm vụ của người 70 tuổi là giữ gìn bản lĩnh cá nhân đã hình thành ở họ trong khoảng thời gian giữa 60 và 69 tuổi. Nhiều người ở tuổi từ 70 đến 79 thường ốm đau và mất người thân. Bạn bè và người quen biết ngày càng ra đi nhiều hơn. Ngoài việc thu hẹp giao tiếp với xung quanh dần dần họ cũng bớt tham gia vào công tác của các tổ chức xã hội. Ở độ tuổi này, người già thường hay cáu giận, mất bình tĩnh. Tình trạng sức khỏe thường làm họ lo lắng. Thông thường, cả nam lẫn nữ ít có quan hệ tình dục. Mặc dù có những mất mát đó nhiều người ở tuổi 70 còn có khả năng chống đỡ những hậu quả gây ra cho độ tuổi này. Nhờ chất lượng hỗ trợ y tế được cải thiện và có lối sống lành mạnh hơn, người đứng tuổi thường vẫn chung sống với các bệnh ung thư và thoát khỏi hiểm nghèo sau những cơn đau tim đột qụy.

1.3 Giai đoạn gần cuối của người cao tuổi

Những người từ 80 đến 90 tuổi. Không nghi ngờ gì độ tuổi là một trong những tiêu chí để chuyển nhóm “những người mới bước tuổi già” sang nhóm “những người rất cao tuổi”, tuy nhiên đó không phải là tiêu chí duy nhất. Iren Becsai cùng với các đồng tác giả nhận xét rằng sự chuyển sang nhóm “những người rất cao tuổi” – đó là “một quá trình được bắt đầu từ ngày mà con người sống bằng các ký ức của mình”.

Phần lớn những người 80 đến 90 tuổi (tám chục năm) rất khó khăn trong việc thích nghi với môi trường xung quanh mình và tác động qua lại với nó. Nhiều người trong số họ cần có lối sinh hoạt được tổ chức tốt, tránh những điều bất tiện bởi lẽ sinh hoạt tốt tạo ra kích thích tốt, sinh hoạt bất tiện tạo ra sự đơn độc. Họ cần được giúp đỡ để duy trì các mối liên hệ xã hội và văn hoá.

1.4 Giai đoạn cuối của người cao tuổi

Những người 90 tuổi trở lên. Số liệu về những người trên 90 tuổi không nhiều, rất ít so với những người 60, 70 hoặc 80 tuổi. Vì vậy, việc thu thập thông tin chính xác về tình hình sức khỏe và những sự tác động qua lại về mặt xã hội của những người thuộc nhóm tuổi này là rất khó khăn.

Mặc dù có khó khăn trong việc tìm hiểu các vấn đề sức khỏe ở nhóm tuổi này, song những người rất già có thể thay đổi các hình thức hoạt động khác nhau một cách có kết quả khi họ biết sử dụng những khả năng vốn có của họ hiệu quả nhất.

2. Vai trò của người cao tuổi

Chiếm tới gần 10% dân số, người cao tuổi là một lực lượng xã hội đông đảo và có vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam hiện nay. Với kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình lao động, cống hiến; với những giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ, người cao tuổi được coi là một nguồn lực quan trọng trong các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước.

Theo Luật người cao tuổi Việt Nam năm 2006, người cao tuổi Việt Nam có những vai trò sau:

- Giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước, yêu con người và thiên nhiên cho   con cháu

- Xây dựng đời sống văn hoá; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở cơ sở và cộng đồng; tham gia các phong trào khuyến học, khuyến tài, hỗ trợ giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng người có đức, có tài và các cuộc vận động khác tại cộng đồng;

- Truyền thụ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và nghề truyền thống cho thế hệ trẻ;

- Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; tư vấn chuyên môn, kỹ thuật;

- Phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp;

- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng.

- Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng, quan liêu; phòng, chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội;

- Đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật;

III. Một số vấn đề của người cao tuổi

1. Vấn đề sức khỏe

1.1 Sự cần thiết

Bước vào giai đoạn cuối của cuộc đời, do ảnh hưởng của quá trình lão hóa, người cao tuổi bị suy giảm sức khỏe một cách rõ nét. Đây cũng là thời kỳ khởi phát của nhiều bệnh: tim mạch, phổi, huyết áp…

Vấn đề sức khỏe là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người cao tuổi. Khi có sức khỏe tốt, người cao tuổi sẽ có điều kiện tốt hơn trong các hoạt động vui chơi – giải trí, các hoạt động xã hội tại địa phương.

Người cao tuổi có tâm lý giấu bệnh tật và các vấn đề sức khỏe của mình do đó cần phải quan tâm thường xuyên, liên tục để có sự hỗ trợ phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho người cao tuổi.

Nhận thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi và gia đình còn nhiều hạn chế nhất là ở nông thôn.

1.2 Cách thức phát hiện

Quan sát cử chỉ, nét mặt và khả năng hoạt động trong cuộc sống thường nhật của người cao tuổi.

Thu thập các thông tin liên quan đến một số triệu chứng bệnh lý khi có nghi ngờ về một bệnh cụ thể:  Quan sát, hỏi người cao tuổi, bạn bè và gia đình của họ…

Phối hợp với ngành Y tế tổ chức các cuộc khám chữa bệnh định kỳ.

1.3 Các hoạt động trợ giúp

Tư vấn cách thức chăm sóc sức khỏe, chế độ dinh dưỡng phù hợp cho người cao tuổi và gia đình của họ.

Tư vấn cách thức khám chữa bệnh, các thủ tục tại bệnh viện và lên kế hoạch giúp người cao tuổi khi họ có bệnh và phải đi chữa trị tại bệnh viện.

Tổ chức khám chữa bệnh định kỳ tại địa phương để giúp phát hiện các bệnh nói riêng và các vấn đề sức khỏe nói chung của người cao tuổi.

Tổ chức các lớp thể dục thể thao: võ thuật dưỡng sinh, cầu long, bóng bàn…tại địa phương để người cao tuổi hoạt động và tăng cường sức khỏe.

Cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ chăm sóc tại: Nấu ăn, giặt đồ, dẫn đi dạo… để người cao tuổi có khả năng sống độc lập ngay cả khi họ bị hạn chế về điều kiện sức khỏe.

2. Vấn đề tâm lý

2.1 Sự cần thiết

Cùng với quá trình lão hóa, quá trì   thay đổi về sinh lý, tâm lý con người trong giai đoạn cao tuổi cũng có rất nhiều vấn đề nổi bật. Người cao tuổi có thể cảm thấy cô độc, hướng về quá khứ, hay giận dỗi, chuyển từ trạng thái tích cực sang tiêu cực…những vấn đề đó làm cho tâm lý người cao tuổi có nhiều thay đổi.

Vấn đề tâm lý có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người cao tuổi. Khi tâm lý ổn định, vui vẻ, người cao tuổi sẽ thấy khỏe khoắn hơn, sẽ hoạt động nhiều hơn.

Do sự thay đổi vai trò của bản thân, nhiều người cao tuổi cảm thấy mình không còn có ích, không còn được sự tôn trọng của mọi người, ảnh hưởng của “hội chứng về hưu”, nhiều người cao tuổi do những sai lầm trong quá khứ thì thường than trách bản thân…trong khi đó họ rất khó chia sẻ với con cháu hay những người thân.

2.2 Cách thức phát hiện

Trò chuyện, lắng nghe người cao tuổi

Quan sát hành vi của người cao tuổi với mọi người xung quanh

2.3 Các hoạt động trợ giúp

Lắng nghe và trò chuyện với người cao tuổi. Khi họ được lắng nghe, chia sẻ, họ sẽ kể được kết những tâm tư của mình, từ đó họ có thể thoát khói sự cô đơn, khép mình.

Tham vấn tâm lý cho người cao tuổi: Nhân viên xã hội cùng người cao tuổi phân tích các vấn đề mà người cao tuổi gặp phải, hỗ trợ người cao tuổi giải quyết các vấn đề tâm lý đó.

Kết nối người cao tuổi với các câu lạc bộ phù hợp với nhu cầu để họ có thể tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội để có thể cởi mở bản thân hơn, thấy mình có ích hơn.

Nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò cũng như các đặc điểm tâm sinh lý thời kỳ cao tuổi.

3. Vấn đề kinh tế

3.1 Sự cần thiết

Bước vào giai đoạn cao tuổi đồng nghĩa là con người bước vào giai đoạn nghỉ ngơi. Tuy nhiên chỉ có một số ít người cao tuổi có điều kiện kinh tế khá giả: Cán bộ, viên chức nhà nước nghỉ hưu, sự hỗ trợ của con cháu…Còn lại đa số người tuổi, nhất là những người neo đơn đều gặp phải những khó khăn về kinh tế do sự suy giảm của thu nhập.

Nhu cầu của người cao tuổi, nhất là khám chữa bệnh hay chế độ dinh dưỡng đòi hỏi những chi phí nhất định.

Vấn đề kinh tế cũng ảnh hưởng đến các vấn đề khác trong cuộc sống của người cao tuổi: tâm lý, sức khỏe….

3.2 Cách thức phát hiện

Thu thập thôn tin về thu nhập của người cao tuổi và gia đình: từ người cao tuổi, gia đình, cán bộ địa phương.

Quan sát bữa ăn hàng ngày

Quan sát, tính toán các nguồn thu cũng như các chi phí

3.3 Các hoạt động trợ giúp

Cung cấp các kiến thức về kinh tế hộ gia đình: tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm, tham quan, học tập mô hình…

Kết nối người cao tuổi còn sức khỏe và có nhu cầu làm việc với các công việc phù hợp tại địa phương để tăng thêm thu nhập.

Giúp người cao tuổi và gia đình tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi để phát triển kinh tế.

IV. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi

1. Người tạo khả năng

Trọng tâm nghề nghiệp của công tác xã hội hướng đến việc trợ giúp các đối tượng khai thác những tiềm năng của bản thân để tự lực vươn lên, giải quyết các vấn đề cụ thể của bản thân. Nhân viên công tác xã hội không làm hộ, làm thay thân chủ mà chỉ giúp  thân chủ nhận thức được những khả năng của mình, phát huy những khả năng đó để giải quyết vấn đề của mình. Đối với người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội cần giúp họ nhận thấy các khả năng của mình: Chuyên môn, kinh nghiệm sống, sức khỏe, tay nghề… Cần động viên, cổ vũ để người cao tuổi tin tưởng vào bản thân mình, tin tưởng rằng mình vẫn còn hữu ích với gia đình, xã hội từ đó thúc đẩy người cao tuổi hoạt động để tiếp tục đóng góp cho gia đình, xã hội. Qua những hoạt động đó, người cao tuổi không những giải quyết được các vấn đề của bản thân mà còn có thể góp sức vào sự phát triển của gia đình, xã hội. Người cao tuổi có quá trình lao động lâu dài vì thế kinh nghiệm thực tế của họ là rất phong phú và rất có giá trị. Sau khi về hưu, không được tiếp tục cống hiến, họ trở nên chán nản và coi mình là người bỏ đi từ đó gây ra nhiều vấn đề nhất là các vấn đề tâm lý cho bản thân. Đồng thời, việc không nhận thức và khai thác những kiến thức và kinh nghiệm của người cao tuổi là sự lãng phí rất lớn của xã hội. Do đó, nhân viên xã hội cần giúp người cao tuổi nhận thức được giá trị của mình để họ tiếp tục lao động với cách thức phù hợp. Thông qua lao động, các vấn đề của người cao tuổi: Tâm sinh lý, thu nhập, quan hệ… sẽ được giải quyết. Thêm vào đó, khi huy động được người cao tuổi vào đội ngũ lao động, xã hội sẽ có thêm nguồn kinh nghiệm và trí thức quý giá để phát triển nhanh hơn và bền vững hơn.

2. Người điều phối - kết nối dịch vụ

Nhân viên công tác xã hội thông qua đánh giá, chẩn đoán các vấn đề và nguồn lực của người cao tuổi để điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp. Với những người cao tuổi bị hạn chế khả năng phục vụ bản thân trong sinh hoạt hàng ngày, nhân viên xã hội có thể giới thiệu và cung cấp cho người cao tuổi những dịch vụ hỗ trợ tại nhà như người giúp việc, người chăm sóc y tế. Với những người cao tuổi neo đơn, không nơi nương tựa, nhân viên công tác xã hội có thể giới thiệu, làm thủ tục để người cao tuổi vào sinh sống trong các trung tâm bảo trợ phù hợp. Nhân viên công tác xã hội cần giới thiệu cho người cao tuổi các câu lạc bộ phù hợp để người cao tuổi sinh hoạt. Việc sinh hoạt ở các câu lạc bộ người cao tuổi: Câu lạc bộ văn thơ, cựu chiến binh, dưỡng sinh… sẽ giúp người cao tuổi đáp ứng các nhu cầu về quan hệ xã hội cho người cao tuổi.

3. Người giáo dục

Người cao tuổi phải đối mặt với rất nhiều những thay đổi về tâm sinh lý cũng như các chức năng xã hội. Do đó, để thích ứng với cuộc sống, người cao tuổi cần phải có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc bản thân, các kỹ năng xã hội… Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ người cao tuổi những kiến thức và kỹ năng đó thông qua vai trò là người giáo dục. Hình thức giáo dục có thể qua việc cung cấp tài liệu, các lớp tập huấn, hoặc được lồng ghép trong tiến trình trợ giúp. Thông qua giáo dục, nhân viên xã hội sẽ giúp người cao tuổi có thêm những kiến thức, kỹ năng để phòng ngừa, chữa trị, phục hồi hay cũng như phát triển các chức năng xã hội phù hợp. Việc cung cấp cho người cao tuổi những kiến thức, kỹ năng chăm sóc bản thân như chế độ dinh dưỡng, các hoạt động thể chất, các cách thức phòng bệnh, chữa bệnh… khoa học và phù hợp sẽ giúp người cao tuổi có cuộc sống mạnh khỏe và an toàn hơn. Không chỉ quan tâm đến cá nhân người cao tuổi, công tác xã hội còn hướng đến giáo dục, tham vấn cho gia đình người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội cung cấp thông tin, hướng dẫn cụ thể, tham vấn cho gia đình người cao tuổi những cách thức chăm sóc, ứng xử với người cao tuổi… Cung cấp những kiến thức, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý, xã hội, những nhu cầu… của người cao tuổi để  gia đình chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi tốt hơn.

4. Người biện hộ

Khi làm việc với người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội cần đánh giá, phân tích những nhu cầu, mong muốn cũng như những nguồn lực của người cao tuổi. Nhân viên công tác xã hội phải bảo vệ những nhu cầu chính đáng của người cao tuổi. Do những thay đổi và sự không ổn định về tâm sinh lý, một số người cao tuổi có thể có những hành động, hành vi khác thường. Nhân viên công tác xã hội cần tìm hiểu nguyên nhân của các hành  vi đó và lý giải để mọi người xung quanh nhất là gia đình hiểu và thông cảm cho họ. Trong xã hội Việt Nam, do đặc thù của văn hóa, nhu cầu tình dục của người cao tuổi chưa được chú ý đúng mức, thậm chí là một hành vi bị lên án. Những người cao tuổi kết hôn luôn chịu sự bàn tán, đánh giá của gia đình, của những người xung quanh. Đây là một nhạy cảm văn hóa mà nhân viên xã hội cần hết sức chú ý. Cần làm cho bản thân người  cao tuổi cũng như gia đình và những người xung quanh hiểu và tôn trọng nhu cầu đó của người cao tuổi bởi tình dục cũng như ăn, uống, hít thở… là những nhu cầu cơ bản nhất của con người. Người cao tuổi suy giảm nhu cầu tình dục chứ không phải là hoàn toàn không có nhu cầu đó.

5. Người tạo môi trường thuận lợi

Mỗi cá nhân là một hệ thống chịu ảnh hưởng và sự tác động từ những hệ thống xung quanh. Công tác xã hội chú ý đến mối quan hệ giữa con người với các hệ thống xung quanh. Tạo môi trường thuận lợi trong công tác xã hội được thực hiện qua việc cải thiện và nâng cao chất lượng trong mối quan hệ giữa con người và hệ thống xung quanh. Người cao tuổi cũng tương tác và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ gia đình, các tổ chức xã hội. Vì thế, trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi cần chú ý đến các hệ thống xung quanh người cao tuổi: Gia đình, hội hưu trí, các câu lạc bộ người cao tuổi… Nhân viên công tác xã hội cần tác động và làm thay đổi các hệ thống đó để tạo ra môi trường thuận lợi nhất phục vụ người cao tuổi giải quyết các vấn đề của bản thân cũng như những hoạt động phù hợp với nhu cầu của bản thân và sự mong đợi của xã hội.

Gia đình là một thiết chế quan trọng đối với mọi cá nhân trong đó có người cao tuổi. Ngày nay, do ảnh hưởng của sự thay đổi điều kiện kinh tế – xã hội, gia đình cũng có sự biến đổi về nhiều mặt như cấu trúc, quy mô, văn hóa… và sự thay đổi đó có ảnh hưởng sâu sắc đến người cao tuổi. Nhịp sống công nghiệp làm cho con người ít quan tâm đến nhau, sự thiếu quan tâm của con cháu, sự mâu thuẫn và xung đột về tư tưởng giữa các thế hệ… làm cho người cao tuổi cảm thấy bị cô lập, cảm giác không được quan tâm. Đó là nguyên nhân nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực ở người cao tuổi. Chính vì thế, trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi, nhân viên công tác xã hội cần quan tâm đến việc huy động các nguồn lực hỗ trợ từ gia đình thông qua cải thiện các mối quan hệ, thúc đẩy sự quan tâm của các cá nhân trong gia đình người cao tuổi… để người cao tuổi có thêm các nguồn lực hỗ trợ, có thêm các điều kiện thuận lợi để tự lực vươn lên, giải quyết triệt để các vấn đề của cá nhân và đạt được những giá trị xã hội như mong đợi của họ.

6. Người đánh giá và giám sát

Nhân viên xã hội là người trực tiếp đánh giá, chẩn đoán những vấn đề của người cao tuổi trong cuộc sống hàng ngày. Những vấn đề của người cao tuổi rất đa dạng: Có thể về sinh lý, tâm lý, lao động – thu nhập hay các vấn đề về quan hệ xã hội. Bước sang giai đoạn cuối của cuộc đời, do sự suy giảm hoạt động và sự già hóa của các cơ quan, hệ   thống sinh học mà người già phải đối mặt với nhiều bệnh tật: Tai biến mạch máu não do huyết áp cao, bệnh về tim mạch, hô hấp… tâm lý của người cao tuổi cũng có nhiều nét đặc biệt nhất là trong việc suy nghĩ và đối phó với cái chết. Nhiều người luôn suy nghĩ về cái chết và muốn chuẩn bị hậu sự cho mình, một số khác lại sợ hãi và tránh nói về cái chết. Cái chết của những bạn bè, những người thân thiết của người cao tuổi gây ra rất nhiều vấn đề tâm lý. Nếu người chết là bạn bè, sẽ hình thành nên sự trầm cảm, lo lắng mình sẽ là người tiếp theo; nếu người chết là người bạn đời sẽ gây cho người cao tuổi cảm giác chán nản thậm chí không muốn sống, muốn “chết theo” bạn đời của mình…Do đó, nhân viên xã hội phải có vai trò chẩn đoán, đánh giá về các vấn đề, về các yếu tố nguy cơ đòi hỏi sự can thiệp: Tự vẫn, cô lập bản thân, thiếu môi trường an toàn, thiếu sự trợ  giúp…

Trong tiến trình trợ giúp người cao tuổi, nhân viên xã hội thực hiện việc đánh giá và giám sát các hoạt động của người cao quả, kết quả của tiến trình. Sự đánh giá và giám sát của nhân viên xã hội một cách thường xuyên, liên tục sẽ góp phần vào việc phát hiện sớm, nâng cao hiệu quả can thiệp… trong công tác xã hội với người cao tuổi.

Trong tiến trình công tác xã hội với người cao tuổi, tùy vào điều kiện thực tế cũng như những vấn đề cụ thể ở người cao tuổi mà các vai trò của nhân viên công tác xã hội thực hiện có sự khác biệt. Nhân viên công tác xã hội thông qua việc thực hiện các vai trò cụ thể của mình để hướng đến mục tiêu phòng ngừa, chữa trị, phục hồi và phát triển cho người cao tuổi.

V. Tiến trình trợ giúp

Tiến trình trợ giúp người cao tuổi là một chuỗi các hoạt động tương tác giữa nhân viên xã hội với người cao tuổi để cùng họ giải quyết vấn đề. Trong quá trình này, nhân viên xã hội dùng chính các quan điểm giá trị, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mình để tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của đối tượng và với hỗ trợ đó, đối tượng  cũng huy động hết khả năng, sức lực của mình để giải quyết những khó khăn đang mắc phải. Như vậy, tiến trình trợ giúp người cao tuổi là hoạt động mà trong đó bao gồm các bước chính như: Tiếp cận người cao tuổi, xác định vấn đề, thu thập dữ liệu, chuẩn đoán, lên kế hoạch trợ giúp, trợ giúp, đánh giá. Các bước này có thể nối tiếp nhau- nghĩa là kết thúc bước này thì mới được chuyển sang bước khác, song cũng có thể đan xen giữa các bước dựa trên kết quả của hoạt động đánh giá.

1. Tiếp cận người cao tuổi

Tiếp cận người cao tuổi là bước đầu tiên có thể người cao tuổi tự tìm đến với nhân viên xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng có thể chính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với người cao tuổi trong phạm vi hoạt động theo chức năng của mình. Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã hội tạo được ấn tượng tốt với người cao tuổi thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn.

2. Xác định vấn đề

Sau khi tiếp cận với người cao tuổi nhân viên xã hội phải xác định được vấn đề người cao tuổi đang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình trợ giúp người cao tuổi, nó đóng vai trò quan trọng trong cả quá trình và kết quả của nó là sự định hướng cho tất cả các bước tiếp theo bởi nếu nhận   diện đúng sẽ dẫn tới cách trợ giúp đúng. Vì thế có thể coi đây là giai đoạn phân tích và thẩm định. Giai đoạn này bao gồm:

- Thu thập các dữ liệu, thông tin liên quan để tìm hiểu hoàn cảnh và vấn đề.

- Phân tích các thông tin, dữ liệu (về tính chất, đặc điểm của vấn đề, phân tích nguyên nhân, yếu tố tác động, mức độ trầm trọng...)

- Kết hợp ghi chép, lưu giữ thông tin cần thiết về đối tượng và vấn đề. Đồng thời cần xem xét một số yếu tố khi nhận diện vấn đề:

- Tìm hiểu các vấn đề đó.

- Xác định tất cả các vấn đề có liên quan.

- Xếp đặt chúng theo cấu trúc có mối quan hệ tương tác nhau.

- Xác định các nhu cầu, yếu tố cản trở việc thực hiện nhu cầu của đối tượng.

- Xác định các vấn đề yếu tố, điều kiện giải quyết.

- Xác định nguồn hỗ trợ và tiềm năng của đối tượng.

- Xác định các hạn chế, yếu tố ảnh hưởng có thể phát sinh.

3. Thu thập dữ liệu

Nhân viên xã hội có thể dựa vào 4 nguồn tin:

- Chính người cao tuổi là nguồn tin trực tiếp (lời kể, hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ...).

- Những người có quan hệ thân thiết như gia đình, bạn bè thân, đồng nghiệp, hàng xóm...

- Tài liệu, biên bản, hồ sơ về người cao tuổi có liên quan đến vấn đề.

Mục đích của thu thập dữ kiện này giúp nhân viên xã hội hiểu được hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân của vấn đề từ đó lên một kế hoạch trợ giúp

4. Chẩn đoán

Gồm 3 bước: chẩn đoán, phân tích, thẩm định. Chẩn đoán là xem xét tính chất của vấn đề và những trục trặc của nó trên cơ sở các dự liệu thu nhận được. Phân tích là chỉ ra nguyên nhân hay nhân tố dẫn đến khó khăn. Thẩm định là xem có thể giảm bớt những khó khăn này thông qua những năng lực nào của người cao tuổi, sự thẩm định mang tính chất tâm lí xã hội vì đây là trọng tâm của trợ giúp người cao tuổi. Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá nhân liên quan trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trợ giúp cho dù đây mới chỉ là kế hoạch tạm thời.

5. Lên kế hoạch trợ giúp

Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác định mục đích trợ giúp và các mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích. Nhiệm vụ của hoạt hoạt động này:

- Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu, phải đạt được gì, tạo được sự thay đổi gì và đích gì.

- Xác định hoạt này cho ai, nhóm nào và ở đâu.

- Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào.

- Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thực hiện nhân viên xã hội nhân viên hoặc người cao tuổi.

- Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? Bao lâu? Một số điều chú ý:

- Kế hoạch phải xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu cho đối tượng.

- Kế hoạch phải được đối tượng bàn bạc và chấp thuận.

- Luôn có sự đánh giá lại, xem xét lại vấn đề trong quá trình xây dựng kế hoạch để có những phương án thích hợp.

- Cần chú ý tới đặc điểm môi trường cộng đồng, nền văn hóa, phong tục tập quán, nơi nhân viên xã hội thực hiện kế hoạch.

- Xem xét đặc điểm cấu trúc tổ chức, chức năng cơ quan tổ chức thực hiện.

- Ghi chép lại những kế hoạch hành động để có thể lượng giá sự hữu hiệu của kế hoạch trong quá trình thực hiện.

- Đòi hỏi nhân viên xã hội có những hiểu biết và kỹ năng chuyên mông như: kỹ năng xác định nội dung và mục tiêu hành động, kỹ năng lựa chọn nhưng phương sách tối ưu đỡ tốn kém nhất về thời gian, tiền của, sức lực và kỹ năng hiểu biết dự đoán các yếu tố ảnh hưởng, các yếu tố tiềm năng hữu ích

Sự lựa chọn mục đích cuối cùng phụ thuộc vào:

- Điều người cao tuổi mong muốn

- Điều mà nhân viên xã hội cho là cần thiết và khả thi

- Các yếu tố liên hệ như:  các dịch vụ, taì nguyên cần thiết

Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách trợ giúp: tính chất vấn đề, các tài nguyên cần thiết và có được, động cơ và năng lực của người cao tuổi. Có thể còn có các nhân tố khác ảnh hưởng đến việc lựa chọn là các giá trị của người cao tuổi

6. Trợ giúp

Là quá trình nhân viên xã hội cùng đối tượng thực thi các hoạt động cụ thể để đi đến mục tiêu đặt ra. Mục tiêu của trợ giúp gồm:

a. Thay đổi, cải thiện hoàn cảnh của người cao tuổi bằng cách đưa các tài nguyên như giúp đỡ tài chính hoặc thay đổi môi trường xã hội gần gũi

b. Giúp cá nhân thay đổi thái độ, hành vi trong hoàn cảnh trước mắt

c. Thực hiện cả hai cùng lúc

Nhân viên xã hội có thể sử dụng tiếp cận hay liên kết theo các cách sau:

Cung cấp dịch vụ cụ thể

Tham vấn: là một loại vấn đàm mà nhân viên xã hội thực hiện với người cao tuổi nhằm vận động sự tham gia ý thức của người cao tuổi trong việc xử lí các vấn đề xã hội và sự thích nghi xã hội. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của người cao tuổi với tiến trình  trợ giúp sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cá nhân như sự tự ý thức về bản thân, các tài nguyên, các cơ hội có thể có...

Công cụ của trợ giúp là các mối quan hệ NVXH – TC, vấn đàm, triển khai các tài nguyên xã hội, vật chất, áp dụng chính sách và tài nguyên của cơ quan xã hội và nối kết với các tài nguyên của cơ quan và cộng đồng khác.

Phương pháp trợ giúp nên dựa trên gia đình của người cao tuổi. Họ có thể đóng góp những nhân tố, điều kiện giúp tiến trình trợ giúp diễn ra tốt hơn.

7. Đánh giá

Là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến trình trợ giúp người cao tuổi để thẩm định kết quả. Đánh giá là một hoạt động liên tục, đồng thời, dù nó là một bộ phận của tiến trình của trợ giúp người cao tuổi, và chỉ tìm được mục tiêu và biểu hiện đầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động.

Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoặc không thay đổi thì tiếp tục điều trị và ngược lại thì phải thay đổi phương pháp trợ giúp.

Kết thúc quá trình trợ giúp là khi vấn đề cảu người cao tuổi đã được giải quyết hoặc sự hiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết hoặc không thay đổi được vấn đề.

Trong những trưòng hợp can thiệp trong cơn khủng hoảng thì không cần kéo dài thời gian, ngược lại những vấn đề liên quan đến tâm lí xã hội thì cần nhiều thời gian hơn.

Sau khi đánh giá phải nhìn về tương lai gần để phục vụ cho việc hình thành một số kế hoạch sâu hơn giúp đỡ của công tác xã hội trong tiến trình trợ giúp người cao tuổi

VI. Một số kỹ năng can thiệp

1. Kỹ năng quan sát

Trong quá trình tiếp xúc, để có thể hiểu được người cao tuổi một cách toàn diện nhân viên xã hội cần nắm bắt được những đặc điểm về diễn biến tâm lý của người cao  tuổi không chỉ thông qua lời nói mà bằng những cử chỉ phi ngôn từ. Những thông tin đó chỉ có thể thu nhận được thông qua quan sát. Kỹ năng quan sát được áp dụng trong suốt tiến trình can thiệp.

1.1. Quan sát trong công tác xã hội cá nhân

Dáng vẻ bên ngoài: Nhân viên xã hội cần chú ý đến kiểu quần áo người cao  tuổi mặc, mức độ sạch sẽ, gọn gàng, màu sắc trang phục ... Nó biểu thị cho kinh tế của người cao tuổi, nghề nghiệp của họ hoặc một phần tính cách của người cao tuổi trong đó. Những dấu hiệu này cung cấp dữ liệu phục vụ đánh giá tổng quát cho những vấn đề của người cao tuổi, đồng thời giúp nhân viên xã hội lưu ý lựa chọn cách ứng xử phù hợp,  tránh gây mặc cảm cho người cao tuổi.

Biểu hiện qua nét mặt: Vui, buồn, giận giữ và thù địch... từ đó giúp nhân viên xã hội nhận biết cảm xúc, suy nghĩ của họ có phù hợp với những điều họ nói không. Với người già, nét mặt là một kênh biểu hiện cảm xúc rõ ràng của họ. Nhân viên xã hội cần rất lưu ý quan sát đặc điểm này.

Cử chỉ, điệu bộ, tư thế, phản ứng ... mang những dấu hiệu của sự lo lắng bất an: Qua cách người cao tuổi ngồi (ngồi vì căng thẳng, cảm thấy xa lạ, hay ngồi một cách tự nhiên thoải mái... ), qua phong cách tham gia vào câu chuyện (thoải mái, căng thẳng, tiếp thu, không chú ý, tin cậy hay nghi ngờ... ). Từ đó giúp nhân viên xã hội nắm được các biểu hiện về cảm xúc của người cao tuổi.

Phong cách của người cao tuổi: Phong cách và những cử chỉ theo thói quen cũng có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp nhân viên xã hội hiểu được những vấn đề ẩn dấu bên trong. Ví dụ: Phong cách giao tiếp tự tin hay rụt rè…

Ngôn ngữ cơ thể khác: Những điều nảy sinh trong ngôn ngữ cơ thể là truyền thông không lời nhưng đó là truyền thông không tự ý hay sự truyền tải ngoài ý muốn của người truyền đạt. Tín hiệu thông tin hầu hết là xúc cảm, cảm nghĩ. Người nói muốn giấu thông tin về cảm nghĩ mà họ trải qua, tuy thế thông tin vẫn lộ ra. Vì vậy, để hiểu cảm nghĩ của người cao tuổi thì nhân viên xã hội phải quan sát ngôn ngữ cơ thể của họ.

Quan sát môi trường sống của người cao tuổi nhằm hiểu thêm về điều kiện sống cũng như các tương tác xung quanh, đặc biệt trong những buổi vãng gia nhân viên xã hội cần quan sát kỹ để có những thông tin đầy đủ và toàn diện. Ví dụ: Quan sát cách thức người già trong gia đình tương tác với con cháu; phòng ở và các điều kiện sinh hoạt có phù hợp với sức khỏe của người cao tuổi hay không; cách thức người già được chăm sóc…

Quan sát quá trình người cao tuổi thực hiện các hoạt động để thấy được những thay đổi của người cao tuổi từ lúc bắt đầu can thiệp, trong suốt tiến trình và đến khi kết thúc. Quan sát giúp cho nhân viên xã hội nắm bắt được tiến bộ cũng như phát hiện được dấu hiệu bất thường của người cao tuổi để điều chỉnh kịp thời.

Chú ý đến sự tương thích giữa những biểu hiện ngôn ngữ không lời và nội dung trong ngôn ngữ có lời (Ví dụ khi người cao tuổi nói về mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình mình, biểu cảm nét mặt, cử chỉ của họ có tự nhiên, phù hợp với lời họ nói không?)

1.2. Quan sát trong công tác xã hội nhóm với nhóm người cao tuổi

Đặc điểm từng thành viên trong nhóm: Tương tự như trong công tác xã hội cá nhân, nhân viên xã hội quan sát các thành viên trong nhóm ở các khía cạnh như: Trang phục, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, phong cách ... để nắm bắt đặc điểm của các thành viên trong nhóm, từ đó có hướng can thiệp phù hợp.

Quan sát tương tác trong nhóm. Điều quan trọng để tiến trình nhóm đạt được hiệu quả chính là sự tương tác trong nhóm. Bởi vậy nhân viên xã hội cần có sự quan sát và nắm bắt kỹ lưỡng, cụ thể những tương tác giữa các thành viên trong nhóm. Từ đó phát huy và lan truyền những tương tác tốt; ngược lại, hạn chế những tương tác tiêu cực; kết nối những tương tác rời rạc trong nhóm. Kết quả quan sát nhóm được thể hiện ở sơ đồ tương tác.

Quan sát nhóm khi thực hiện nhiệm vụ. Nhân viên xã hội cần trả lời được những câu hỏi sau: Nhóm thực hiện nhiệm vụ ra sao? Mức độ tham gia của các thành viên vào công việc chung của nhóm như thế nào? Những thành viên tích cực; thành viên chậm chạp; thành viên lười vận động…?

Sự thay đổi của các thành viên nhóm. Sau mỗi buổi sinh hoạt, nhóm có thay đổi theo chiều hướng nào, cụ thể? Bên cạnh sự thay đổi chung của nhóm, nhân viên xã hội cũng cần nắm bắt sự thay đổi hay không thay đổi đối với từng cá nhân trong nhóm.

Môi trường xung quanh nhóm tác động lớn đến hoạt động nhóm. Vì vậy, ngay từ khi thành lập nhóm, nhân viên xã hội đã tính đến sự phù hợp của không gian sinh hoạt. Trong suốt quá trình hoạt động, yếu tố này vẫn luôn cần chú ý để thay đổi phù hợp hơn.

2. Kỹ năng lắng nghe

Lắng nghe trong giao tiếp hàng ngày là quá trình im lặng, tập trung để thu nhận  được âm thanh mang thông tin trong đó. Nhưng lắng nghe trong công tác xã hội không  chỉ đơn thuần là sử dụng giác quan, mà nhân viên xã hội lắng nghe người cao tuổi bằng cả tâm hồn. Khi tác nghiệp với người cao tuổi, điều quan trọng nhất là chúng ta phải biết lắng nghe họ. Chia sẻ cũng là một nhu cầu cơ bản của người già. Vì thế, nhân viên xã hội chỉ có thể hiểu được người cao tuổi khi họ biết lắng nghe một cách tích cực. Đây là kỹ năng không thể thiếu và cần được rèn luyện đối với chúng ta.

Cũng giống như kỹ năng quan sát, lắng nghe là một kỹ thuật được sử dụng xuyên suốt trong quá trình can thiệp và trong tất cả các phương pháp công tác xã hội.

Nhiều nhà khoa học cho rằng lắng nghe tích cực bao gồm 4 yếu tố cơ bản

Tiếp xúc ánh mắt thể hiện sự tập trung chú ý của người nghe vào câu chuyện mà người cao tuổi đang muốn nói. Nhân viên xã hội thường phải nhìn người cao tuổi nhiều hơn trong khi người cao tuổi có ý lảng tránh cái nhìn, nhưng không có nghĩa rằng Nhân viên xã hội nhìn chằm chằm vào người cao tuổi quá lâu sẽ khiến họ cảm thấy bị dò xét, không thoải mái, mất tự nhiên. Vì vậy, đôi khi nhân viên xã hội cần nhìn qua chỗ khác.

Một lời khuyên từ các chuyên gia tâm lý: Nên nhìn vào mũi của người giao tiếp thay vì nhìn thẳng vào mắt, điểm nhìn đó sẽ tạo ra sự lan tỏa cho cả khuôn mặt, người cao tuổi sẽ không có cảm giác bị dò xét.

Giọng nói vừa phải và nên phù hợp với lời nói, những biểu hiện được thể hiện (với người cao tuổi, tùy từng khả năng thính giác của từng người mà nhân viên xã hội  điều chỉnh âm lượng giọng nói của mình cho họ vừa nghe). Yếu tố giọng nói cũng được đề cập đến ở khía cạnh nhân viên xã hội nên lắng nghe âm lượng và trọng âm khách hàng sử dụng khi mô tả tình huống để hiểu biết thấu đáo hơn vấn đề ẩn giấu bên trong sự việc.

Lắng nghe tích cực còn cần tìm hiểu qua lời nói. Người cao tuổi có thể bày tỏ rất nhiều, nhưng không nêu vấn đề nào là quan trọng, nhu cầu nào là cần thiết đối với họ hiện tại. Khi đó nhân viên xã hội biết lắng nghe cần phải biết chú ý đến những gì người cao tuổi truyền tải để có thể tóm lược và diễn giải thông tin cơ bản. Nhân viên xã hội  cũng có thể giúp khách hàng trình bày một cách rõ và tập trung hơn về vấn đề của họ. Cần tránh kiểu nghe không chú ý, giả vờ nghe hoặc nghe không đầy đủ.

Ngôn ngữ cử chỉ mang nhiều thông tin ẩn chứa trong đó. Lắng nghe không có nghĩa chỉ nghe âm thanh, mà nhân viên xã hội cần biết “nghe” cả những biểu hiện không lời của người cao tuổi. Có thể họ muốn diễn đạt một điều gì đó bằng lời nhưng rất khó khăn, do đó cử chỉ, điệu bộ mà họ thể hiện ra sẽ là kênh thông tin hữu ích đối với nhân viên xã hội. Mặt khác, yếu tố này một phần có liên quan đến văn hoá. Vì thế nhân viên xã hội cần hiểu biết về nền văn hoá của người cao tuổi để giao tiếp cho phù hợp.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của lắng nghe tích cực bao gồm:

Từ phía nhân viên xã hội

Không kiên nhẫn chờ đợi người cao tuổi trình bày xong vấn đề của họ.

Không tập trung vào câu chuyện của người cao tuổi mà để suy nghĩ của mình sang một việc khác.

Nhân viên xã hội cho rằng mình hiểu rõ vấn đề của người cao tuổi và vội vàng kết luận vấn đề.

Nhân viên xã hội thiếu đồng cảm và có thành kiến với người cao tuổi từ trước

Nhân viên xã hội liên hệ giữa câu chuyện của người cao tuổi với thực tế bản thân và không tập trung tiếp vào câu chuyện của người cao tuổi (cơ chế phản phóng  chiếu)

Từ phía người cao tuổi: Thông tin người cao tuổi đưa ra quá nhiều và không tập trung

Yếu tố khách quan: Tiếng ồn, nhiệt độ …

Ứng dụng và rèn luyện kỹ năng lắng nghe như thế nào?

Những kỹ năng này được ứng dụng tương tự trong các phương pháp của công tác xã hội. Nhân viên xã hội cần biết phát huy những điểm tích cực của các thành tố của lắng nghe tích cực như đã trình bày trên. Một số lời khuyên được đưa ra như sau:

Trước hết tập trung tâm trí của mình vào vấn đề người cao tuổi đang trình bày, tránh sự sao nhãng và nghe hời hợt.

Nhân viên xã hội hòa nhập với ngôn ngữ cơ thể của người cao tuổi, điều này  thể hiện ra ở những hành vi cụ thể. Ví dụ khi người cao tuổi ngồi thoải mái, nhân viên xã hội cũng có thể đáp ứng với dáng vẻ thoải mái; Nét mặt nhân viên xã hội biểu hiện theo trạng thái cảm xúc của người cao tuổi; Sự hòa nhịp tốc độ giọng nói với người cao tuổi (người cao tuổi nói nhanh, nhân viên xã hội cũng có thể tăng tốc độ nói nhanh hơn một chút, hay khi người cao tuổi buồn, giọng nói trùng xuống, nhân viên xã hội cũng có thể giảm tốc độ và âm vực giọng nói của mình xuống). Điều đó tạo cho người cao tuổi cảm thấy được chia sẻ, được thấu hiểu. Lưu ý, không áp dụng một cách máy móc như bắt chước mà linh hoạt tùy tình huống.

Khuyến khích người cao tuổi nói bằng cách gật đầu hay sử dụng các câu trả lời tối thiểu như: “thế à”, “vâng” … Nhân viên xã hội không lên bộc lô sự tán thưởng hoặc phản đối một cách quá lộ liễu hoặc mức độ thái quá bằng những câu cảm thán mạnh: “Thật kinh khủng!”, “ôi trời ơi!” …

Thể hiện sự quan tâm đối với người cao tuổi khi họ buồn. Hay khi người cao tuổi vui, nhân viên xã hội bày tỏ sự chia vui cùng họ.

Không vội vàng kết luận vấn đề khi người cao tuổi đang trình bày, cũng đừng cố đoán biết trước ý nghĩ của người cao tuổi hoặc nói hộ họ khi chưa nghe đầy đủ họ trình bày.

Cần có khoảng trống im lặng giữa cuộc trò chuyện để người cao tuổi nhìn nhận lại vấn đề họ vừa nói và cân bằng lại cảm xúc của họ. Những lúc ấy, nhân viên xã hội không nên cố hỏi để người cao tuổi nói, mà nên thể hiện sự chia sẻ với họ, đồng thời quan sát những biểu hiện của người cao tuổi để nắm bắt được tâm lý của họ. Tuy nhiên, cũng không nên để khoảng lặng quá lâu, cần biết gợi ý bằng những câu hỏi “Ông/bà đang cảm thấy thế nào?”, “Ông/bà đang nghĩ gì vậy?” để người cao tuổi tiếp tục câu chuyện của họ và nói lên những cảm nghĩ của họ khi đó.

Ngược lại với khoảng trống im lặng là trường hợp người cao tuổi nói  quá nhiều, nói liên tục và không tập trung thông tin. Trong những tình huống như vậy, nhân viên xã hội cũng cần biết ngắt đúng chỗ và khéo léo, tránh để họ phật lòng.

3. Kỹ năng xử lý sự im lặng

Trong quá trình làm việc với người cao tuổi, có những lúc người cao tuổi im lặng. Thay vì bối rối và chuyển chủ đề, thì nhân viên xã hội cần tìm hiểu sự yên lặng đó của người cao tuổi mang ý nghĩa gì?

Người cao tuổi không có gì để nói, đầu óc họ đang trống rỗng

Người cao tuổi không biết bày tỏ như thế nào, họ cảm thấy khó khăn khi nói về vấn đề đó.

Người cao tuổi không muốn nói vì có thể điều đó làm tổn thương họ; hoặc sợ nhân viên xã hội hiểu lầm; cảm giác không an toàn, nghi ngờ người giúp đỡ …

Tính cách của người cao tuổi là người kín đáo, thích nghe hơn là nói, họ chờ nhân viên xã hội nói.

Im lặng để suy nghĩ thêm

Im lặng để thư giãn, làm dịu cảm xúc

Rất nhiều lý do để người cao tuổi im lặng, và nhiệm vụ của nhân viên xã hội là tìm hiểu sự im lặng.

Cách xử lý im lặng:

Khi nhận biết được người cao tuổi im lặng vì họ đang suy nghĩ, phân vân, nhân viên xã hội nên im lặng để cho người cao tuổi suy nghĩ sâu hơn về vấn đề của họ. Nhân viên xã hội cần học cách kiên nhẫn. Sự kiên nhẫn chờ đợi của nhân viên xã hội sẽ khiến người cao tuổi cảm thấy được tôn trọng.

Tuy nhiên, không để người cao tuổi im lặng quá lâu mà cần có giải pháp xử lý sự im lặng đó:

Cho phép người cao tuổi im lặng trong một khoảng thời gian nhất định (không quá dài, thường chỉ 30 giây) tùy vào cảm nhận của nhân viên xã hội về sự im lặng đó.

Bày tỏ sự cảm thông với sự im lặng đó

Khuyến khích người cao tuổi nói ra vấn đề của họ và cảm xúc hiện tại của họ.

Cho người cao tuổi thấy nhân viên xã hội muốn giúp đỡ họ khi nào họ muốn

Nói về sự bảo mật thông tin

Ví dụ: Cháu biết rằng để tâm sự những chuyện thầm kín của mình với người khác thật không dễ dàng. Nhưng nếu khi nào bà cảm thấy muốn trò chuyện cho khuây khỏa, nhẹ nhõm hơn thì cháu luôn sẵn sàng lắng nghe bà tâm sự. Những điều bà chia sẻ sẽ là bí mật giữa hai chúng ta.

Tùy từng trường hợp liên quan đến nguyên nhân im lặng của người cao tuổi mà  nhân viên xã hội có những cách xử lý phù hợp.

Trong một số trường hợp, nhân viên xã hội cũng có thể hỏi người cao tuổi về chính cảm xúc hiện tại của họ: “Ông/bà đang cảm thấy thế nào?”

4. Kỹ năng thấu cảm

Thấu cảm là nhân viên xã hội có thể hiểu được một cách chính xác những gì mà người cao tuổi của họ đang trải qua từ chính hệ quy chiếu của người cao tuổi. Hay nói cách khác, nhân viên xã hội có khả năng cảm nhận điều mà người cao tuổi đang cảm nhận, hiểu người cao tuổi bằng tư duy cũng như bằng tình cảm. Người cao tuổi phải cảm thấy rằng họ đang được quan tâm thực sự chứ không phải bị định kiến, phê phán hay chỉ trích để họ có thể cởi mở và chia sẻ hơn với nhân viên xã hội

Nhân viên xã hội thấu cảm với người cao tuổi khi họ:

- Đặt mình vào hoàn cảnh của người cao tuổi và đánh giá đúng vấn đề của họ

- Lắng nghe không chỉ bề mặt ngôn từ mà cả những biểu cảm dưới ngôn từ.

- Cảm nhận và hiểu cảm xúc, những điều mà người cao tuổi đã trải qua.

- Quan tâm đến nhu cầu của người cao tuổi

- Nhạy cảm và tôn trọng những giá trị, kinh nghiệm của người cao tuổi.

- Có sự trao đổi với người cao tuổi về những điều mà nhân viên xã hội đã hiểu.

Các mức độ của thấu cảm được thể hiện như sau2

Nhân viên xã hội chưa nhận ra và chưa hiểu những điều người cao tuổi muốn trình bày. Câu hỏi đưa ra chỉ tập trung thu thập thông tin mà không quan tâm đến cảm xúc người cao tuổi. Phản ứng thiên về chỉ trích người cao tuổi, gây khó chịu và bất  ổn ở người cao tuổi.

Nhân viên xã hội nhắc lại những thông tin người cao tuổi vừa trình bày một cách chính xác, nhân viên xã hội thể hiện để người cao tuổi biết những điều họ vừa trình bày đã được hiểu về cơ bản.

Những thông điệp mà khách hàng muốn truyền tải đã được nhân viên xã  hội hiểu và Nhân viên xã hội còn có sự đánh giá, nhạy cảm với những suy nghĩ của người cao tuổi. Nhân viên xã hội đặt mình vào hoàn cảnh của người cao tuổi để cảm nhận về điều họ đang cảm thấy như thể là chính vấn đề của mình. Lời nói của nhân viên xã hội có thể chỉ ra được những giá trị tích cực của người cao tuổi để họ cảm thấy có giá trị.

Ứng dụng kỹ năng thấu cảm

Đặt mình vào hoàn cảnh của người cao tuổi để cảm nhận điều họ đang cảm nhận. Chấp nhận họ.

Nhắc lại cảm xúc người cao tuổi đang nói, nguyên nhân dẫn đến cảm xúc  đó

Nói rằng điều họ đang cảm thấy là đúng trong hoàn cảnh của họ.

Làm cho người cao tuổi thấy họ có giá trị trong hoàn cảnh đó

Theo một tài liệu nước ngòai đưa ra một công thức thể hiện sự lắng nghe thấu cảm như sau: “Ông/bà cảm thấy (nói về cảm xúc hiện tại của người cao tuổi) bởi vì (câu chuyện của người cao tuổi đi kèm cảm xúc đó)”.

Một số điều cần tránh:

Không đưa ra lời khuyên

Không đưa kinh nghiệm cá nhân vào tình huống của người cao tuổi

Không đứng về một phía để bênh vực hay phê phán

Không giảng giải đạo đức

Không đặt câu hỏi.

Tránh tỏ thái độ cảm thông hay thương hại với người cao tuổi.

5. Kỹ năng diễn giải

Hiện nay vẫn còn những tranh cãi về sự trùng lặp giữa kỹ năng diễn giải và thấu cảm. Ở một chừng mực nào đó, hai kỹ năng này có sự giống nhau.

Diễn giải là sự phân tích hành vi, ý nghĩa và cảm xúc của người cao tuổi từ quan điểm tiếp cận của nhân viên xã hội và đạt được sự chấp thuận của người cao tuổi. Nhân viên xã hội phản hồi những hiểu biết của mình về tình huống của người cao tuổi mà không thêm bớt thông tin nào khác vào đó.

Trong khi thấu cảm thường diễn tả sự thấu hiểu cảm giác về thông điệp, diễn giải thường tập trung vào việc người cao tuổi đang suy nghĩ gì hay đang làm gì. Diễn giải  cũng có thể dùng để truyền tải những dữ liệu có liên quan.

Mục đích của kỹ năng diễn giải

Để người cao tuổi thấy mình đang được nhân viên xã hội lắng nghe, hiểu và chia sẻ

Để người cao tuổi nhìn nhận lại vấn đề cốt lõi của mình một cách sáng tỏ và cô đọng hơn.

Giúp chính nhân viên xã hội nhìn nhận lại vấn đề của người cao tuổi một cách tập trung và đúng hướng hơn.

Giúp nhân viên xã hội biết được mình có hiểu đúng vấn đề của người cao tuổi không khi mà người cao tuổi phản hồi lại (đồng ý hay không đồng ý với sự diễn giải đó của nhân viên xã hội).

Ứng dụng kỹ năng:

Diễn giải được sử dụng khi người cao tuổi đã kể tương đối đầy đủ về vấn đề của họ và nhân viên xã hội thấy cần chốt lại vấn đề đó để phát triển các bước tiếp theo. Hoặc khi muốn người cao tuổi hiểu rõ hơn vấn đề của họ.

Lắng nghe cẩn trọng để hiểu cách nhìn nhận vấn đề của người cao tuổi

Phân tích sự kiện

Chỉ ra cảm xúc và quy chiếu nguyên nhân gây ra nó

Xác định vấn đề của người cao tuổi.

Diễn giải lại những điều nhân viên xã hội cảm nhận về thông điệp mà người  cao tuổi bày tỏ bằng ngôn ngữ của nhân viên xã hội một cách ngắn gọn, rõ ràng hơn  thông tin người cao tuổi cung cấp.

Im lặng và lắng nghe sự phản hồi lại của người cao tuổi. Bởi điều quan trọng đối với sự diễn giải của nhân viên xã hội về vấn đề của người cao tuổi là phải có sự chấp thuận của người cao tuổi. Bởi khi người cao tuổi chấp thuận, tức nhân viên xã hội đã hiểu đúng thông điệp mà người cao tuổi muốn truyền tải.

Cấu trúc câu mở đầu trong diễn giải: “Ông/bà cảm thấy…”; “Dường như…”; “Ông/bà vừa nói với tôi là…” …

6. Kỹ năng tóm tắt

Tóm tắt thường sử dụng trong các trường hợp:

Theo tiến trình của một sự việc người cao tuổi trình bày

Khi nhân viên xã hội không hiểu rõ những điều người cao tuổi trình bày

Sau một buổi làm việc với người cao tuổi

Cũng giống như diễn giải nhân viên xã hội nhắc lại thông tin người cao tuổi cung cấp, nhưng tóm tắt bao gồm lượng thông tin lớn hơn. Tóm tắt có thể được sử dụng nhiều lần trong quá trình làm việc để nhắc lại các chủ điểm, nội dung đề cập. Đồng thời để  giúp người cao tuổi tiếp tục nói về câu chuyện của họ. Kỹ năng này cũng có thể được sử dụng ở đầu buổi tham vấn để nhắc lại những thông tin đã được trao đổi từ buổi tham vấn trước.

Nhiều khi người cao tuổi trình bày quá nhiều, lan man, không tập trung. Nhân viên xã hội và ngay cả người cao tuổi cũng khó xác định được đâu là vấn đề chính của người cao tuổi. Khi ấy nhân viên xã hội cần biết tóm tắt lại những vấn đề mà người cao tuổi vừa trình bày để có thể giúp tổ chức hợp lý lại thông tin, từ đó đẩy nhanh quá trình tìm ra vấn đề, tránh bị lan man, phân tán.

Ví dụ: Theo như lời bà kể, cháu thấy bà đã xác định được bốn vấn đề của mình. Thứ nhất … Thứ hai … Thứ 3… Thứ 4 … Vậy theo bà vấn đề nào là quan trọng nhất cần giải quyết trước? 

7. Kỹ năng đặt câu hỏi

Là kỹ năng chính của nhân viên xã hội khi làm việc với người cao tuổi. Hỏi là cách thức trong đó người hỏi muốn khai thác thông tin từ người được hỏi nhằm mục đích nào đó. Ở đây nhân viên xã hội đặt câu hỏi cho người cao tuổi giúp cho người cao tuổi có thể giải thích câu chuyện cũng như biết về mình rõ hơn mà không khiến họ cảm thấy bị lên án hay lừa phỉnh.

Các loại câu hỏi thường sử dụng

Có rất nhiều câu hỏi khác nhau, tùy vào hoàn cảnh sử dụng mà nhân viên xã hội đặt câu hỏi cho phù hợp. Nhìn chung, dù mục đích hỏi là gì thì các dạng câu hỏi cuối cùng cũng có thể chỉ là câu hỏi đóng hoặc mở; trực tiếp hoặc gián tiếp (theo Ivey)

Câu hỏi đóng: Đưa đến những câu trả lời ngắn “có”, “không”. Khi đặt câu hỏi này thì thông tin thu được sẽ rất ít. Dù ít nhiều thì người cao tuổi cũng bị dẫn dắt bởi nhận thức và thái độ của NVXH nếu sử dụng câu hỏi này. Như vậy sẽ thiếu đi tính khách quan.

Câu hỏi mở: Nhìn chung dạng câu hỏi này được đánh giá cao và thu được  nhiều thông tin hơn. Người cao tuổi cũng được giãi bày nhiều hơn về vấn đề và cảm xúc của mình. Câu hỏi thường bằng “thế nào”, “khi nào”, “như thế nào”…

Câu hỏi trực tiếp – gián tiếp: Câu chuyện sẽ cởi mở hơn nếu nhân viên xã hội đặt câu hỏi gián tiếp cho người cao tuổi thay vì hỏi trực tiếp. Trong nhiều trường hợp, câu hỏi trực tiếp sẽ gây phản cảm vì thiếu sự tế nhị.

Ví dụ: “Theo ông thì điều gì đã khiến các con của ông tức giận như vậy?” thay vì hỏi: “Ông đã làm gì mà khiến các con ông tức giận như vậy?”

Câu hỏi tìm thông tin chung giúp nhân viên xã hội có cái nhìn ban đầu về người cao tuổi và mở đầu cho cuộc nói chuyện. Tuy nhiên, nếu nhân viên xã hội quá sa đà vào câu hỏi này thì cuộc trao đổi dễ bị phân tán.

Ví dụ câu hỏi thông tin chung: “Cháu thấy cụ rất nâng niu chiếc vòng đó, cụ có thể nói cho cháu biết điều gì khiến cụ yêu quý chiếc vòng đó đến vậy?”.

Câu hỏi mục đích: Hướng người cao tuổi tìm các giải pháp cải thiện thực trạng Ví dụ: “Sau việc hiểu lầm này, ông/bà định giải quyết như thế nào?”

Câu hỏi nhận thức, cảm xúc, hành vi: Làm rõ trạng thái tâm lý của người cao tuổi hoặc người khác có liên quan tới vấn đề của người cao tuổi. Giúp người cao tuổi ý thức về bản thân và trải nghiệm tâm lý rõ ràng hơn.

Ví dụ: Ông/bà thấy thế nào về hành vi nghịch ngợm chống đối của người cháu?

Câu hỏi phản hồi: Khuyến khích người cao tuổi ý thức tốt hơn về vấn đề họ  vừa trình bày, giúp nhân viên xã hội và người cao tuổi xem xét sự kiện này trong mối  quan hệ với các sự kiện khác một cách khách quan.

Ví dụ: Theo cụ kể thì con của cụ đã cố gắng chăm lo cho cụ, nhưng cụ đã bỏ nhà ra đi, cụ nghĩ như thế nào về sự việc này?

Câu hỏi lựa chọn hướng người cao tuổi so sánh, cân nhắc vấn đề để có sự lựa chọn giải pháp cho mình.

Ví dụ: Nếu mẹ chị vẫn tiếp tục bỏ cơm thì chị sẽ làm gì?

Câu hỏi cảnh báo sự nhạy cảm: Trong một số tình huống nhạy cảm, nhân viên xã hội trước khi đặt câu hỏi cần có lời cảnh báo trước và giải thích về mục đích của việc hỏi. Câu hỏi này thường là: “Cháu sẽ hỏi ông/bà một câu hỏi mang tính riêng tư một  chút…”, “ông/bà không phiền lòng nếu cháu hỏi ông/bà về …”, …

Câu hỏi tưởng tượng giúp người cao tuổi tư duy về những điều chưa xảy ra, giúp họ chuẩn bị một tinh thần sẵn sàng cho thực tế có thể xảy đến. Câu hỏi này thường bắt đầu bằng từ “nếu”.

Câu hỏi chuyển tiếp: Giúp chuyển tiếp vấn đề một cách linh hoạt

Tùy vào mục đích trong từng trường hợp mà nhân viên xã hội lựa chọn câu hỏi phù hợp. Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng câu hỏi. Việc nhân viên xã hội hỏi quá nhiều sẽ khiến cho người cao tuổi cảm thấy bị chất vấn; hoặc sẽ nảy sinh sự đoán trước câu hỏi  dẫn đến chuẩn bị trước câu trả lời; hoặc không chủ động bày tỏ nhiều mà chờ nhân viên  xã hội hỏi.

Cách đặt câu hỏi:

Câu hỏi nên tập trung vào vấn đề thu hút sự quan tâm của người cao tuổi, dựa vào thông tin người cao tuổi đã cung cấp trước đó.

Để người cao tuổi có thời gian trả lời. Hãy tạm dừng khi kết thúc một câu và  bắt đầu một câu hỏi mới.

Không nên đưa ra câu hỏi dồn dập, liên tục với người cao tuổi.

Những câu hỏi nên tránh: Câu hỏi kép (một lúc đưa ra nhiều câu hỏi khiến người cao tuổi cảm thấy như bị chất vấn); Câu hỏi dẫn dắt (bao hàm sự gợi ý câu trả lời trong đó, mang tính chủ quan suy đoán của nhân viên xã hội); Câu hỏi tại sao (khiến  người cao tuổi giải thích dài dòng và có cảm giác tội lỗi) vì vậy nên hạn chế sử dụng.

Các chuyên gia khuyên rằng: Trước khi đặt câu hỏi, nhân viên xã hội tự đặt câu hỏi cho mình “Nếu tôi không cần biết thông tin này thì có ảnh hưởng gì đến qúa trình trợ giúp không?”. Nếu không ảnh hưởng thì nhân viên xã hội không cần thiết phải hỏi.

Giọng nói, nét mặt và cử chỉ của nhân viên xã hội khi đặt câu hỏi cũng cần lưu ý để tránh sự hiểu nhầm của người cao tuổi rằng nhân viên xã hội đang chất vấn hay chỉ trích họ.

Một số câu hỏi các nhà tham vấn thường sử dụng

Ông/bà cảm thấy như thế nào về chuyện đó?

Ông/bà giải thích điều này như thế nào?

Ông/bà đã cố gắng làm những gì?

Ông/bà muốn điều gì sẽ xảy ra?

Ông/bà cho là thế nào?

Chuyện đó xảy ra khi nào?

Khi nào ông/bà muốn …?

Ông/bà cảm thấy như thế nào khi anh ta nói vậy?

Còn cách nào khác ông/bà có thể làm?

Ông/bà có cảm thấy mình phải lựa chọn giữa….và ….?

Đó có phải là thứ mà ông/bà coi trọng không?

Những điểm nào là tốt trong cách lựa chọn của ông/bà?

Ông/bà có cho rằng mình nên lặp lại chuyện đó?

Ông/bà có thể kể với bạn mình chuyện này không?

8. Kỹ năng tự bộc lộ

Bộc lộ bản thân nghĩa là nhân viên xã hội chia sẻ những thông tin cá nhân về mình (cảm xúc, suy nghĩ, kinh nghiệm) với người cao tuổi trong quá trình làm việc để giúp người cao tuổi vượt qua một vấn đề hay một cảm xúc nào đó.

Ưu điểm của tự bộc lộ bản thân:

Sự tiết lộ trung thực của nhân viên xã hội có thể tạo thuận lợi cho người cao tuổi cởi mở và có thể là hình mẫu cho những hành vi tích cực của người cao tuổi.

Tạo sự gần gũi giữa nhân viên xã hội và người cao tuổi.

Ứng dụng kỹ năng:

Nhân viên xã hội chia sẻ những thông tin riêng về cá nhân mình

Nhân viên xã hội bộc lộ những cảm nhận của mình về người cao tuổi trong  từng thời điểm của quá trình làm việc. Có thể đề cập đến những thay đổi nhỏ mang tính tích cực hoặc cũng có thể là tiêu cực thường xuyên của người cao tuổi.

Tránh để người cao tuổi có cảm giác mình được khen hay bị chê một cách thẳng  thắn quá, có thể sử dụng mệnh đề: “Có vẻ như…”, “Dường như là …”, “Tôi cảm thấy…”.

Lưu ý khi sử dụng:

Không nên sử dụng nhiều kỹ năng này. Nhân viên xã hội chỉ bộc lộ bản thân vào những thời điểm thích hợp khi sự bộc lộ đó có thể mang lại lợi ích cho sự lớn mạnh của người cao tuổi, giúp người cao tuổi tìm được hướng giải quyết vấn đề của họ.

Không tự bộc lộ khi nhân viên xã hội đang có tâm trạng “cao hứng”, điều đó sẽ dễ dẫn đến việc tự bộc lộ bản thân là nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhân viên xã hội chứ không nhằm mục đích giúp người cao tuổi.

Bộc lộ phải trung thực.

9. Kỹ năng cung cấp thông tin

Có hai cách hiểu về cung cấp thông tin:

Là sự chia sẻ trực tiếp về những sự thực, ý tưởng, giá trị và niềm tin của nhân viên xã hội liên quan đến nhiệm vụ cần làm của người cao tuổi.

Cung cấp cho người cao tuổi những thông tin mà người cao tuổi chưa biết về  nó nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiểu biết và tiến trình giải quyết vấn đề.

Lưu ý: Cung cấp thông tin khác với cho lời khuyên

Ứng dụng kỹ năng:

- Cung cấp thông tin liên quan đến kinh nghiệm từng trải của những trường hợp đã có.

Cần làm rõ thông tin mang tính khách quan - sự kiện với những thông  tin mang tính nhận thức, phỏng đoán của nhân viên xã hội.

Đảm bảo tính bảo mật của những trường hợp đó.

Cần cho người cao tuổi thấy họ có quyền về việc nên hay không nên làm theo chỉ dẫn. Nhấn mạnh quyền quyết định do người cao tuổi.

Luôn cảnh báo cho người cao tuổi biết và ý thức được rằng kinh nghiệm của người này không thể hoàn toàn áp dụng cho người khác. Vấn đề của người cao tuổi có thể không giống với người đi trước. Do đó, cần khuyến khích họ chia sẻ và tự chịu trách nhiệm về hành động của mình.

- Cung cấp những thông tin khác mà người cao tuổi chưa biết.

Tìm hiểu người cao tuổi cần biết thông tin về khía cạnh nào (nguồn lực, chính sách, tổ chức …).

Đảm bảo thông tin đó là chính xác trước khi cung cấp cho người cao tuổi

Hướng dẫn cách sử dụng thông tin vừa được cung cấp.

10. Kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực

Được coi là kỹ năng cơ bản trong CTXH. Kết nối nguồn lực có thể hiểu ở ba khía cạnh: Kết nối giữa nguồn lực nào đó với người cao tuổi; Kết nối giữa các nguồn lực khác nhau để cùng giải quyết vấn đề và trợ giúp người cao tuổi; Vận động và kết nối ngay chính nguồn lực trong cộng đồng.

Các nguồn lực hỗ trợ chính là các hệ thống xung quanh cá nhân, nhóm và cộng đồng. Bao gồm các hệ thống tự nhiên (gia đình, bạn bè…); hệ thống chính thức (cơ  quan, đoàn thể … ); hệ thống xã hội (tổ chức, ngân hàng, bệnh viện, trường học … ) hỗ trợ người cao tuổi. Tùy vào vấn đề cụ thể của người cao tuổi là gì mà các nguồn lực này phát huy tác dụng hỗ trợ ở khía cạnh nào.

Vận động và kết nối nguồn lực đi theo các bước:

Tìm hiểu nhu cầu của người cao tuổi (cá nhân, nhóm, cộng đồng) đang thiếu  hụt hay cần những nguồn lực hỗ trợ nào.

Đánh giá và tìm kiếm những nguồn lực cần thiết có thể đáp ứng được những nhu cầu đó hoặc có thể tham gia trợ giúp tiến trình giải quyết vấn đề của người cao tuổi

Giúp người cao tuổi tiếp cận được với những nguồn lực hỗ trợ.

Trường hợp người cao tuổi chưa biết đến các nguồn lực, nhân viên xã hội sẽ giới thiệu để người cao tuổi nắm bắt được và hướng dẫn họ cách tiếp cận.

Trong trường hợp người cao tuổi đã biết và đã tiếp cận nhưng gặp cản trở, nhân viên xã hội sẽ là người biện hộ để giúp người cao tuổi có thể tiếp cận được thuận tiện hơn.

Một khía cạnh khác của kết nối nguồn lực là việc nhân viên xã hội liên kết các nguồn lực khác nhau lại để cùng phát huy sức mạnh giúp cho người cao tuổi. Nhân viên xã hội cần làm việc với các bên quản lý nguồn lực để có được những thỏa thuận hợp tác  rõ ràng, đảm bảo hiệu quả của công việc giúp đỡ.

C. Kết luận

Như vậy, người cao tuổi chính là một trong những đối tượng yếu thế trong xã hội, cần được sự trợ giúp, nhất là của nhân viên công tác xã hội. Đa phần người cao tuổi sẽ gặp phải những vấn đề khó khăn cả về thể chất, sức khỏe và tinh thần. Với những kiến thức vốn có, công với những kỹ năng đặc thù, mỗi nhân viên công tác xã hội sẽ phát huy hết khả năng để góp phần trợ giúp cho người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn cả về thể chất cũng như tinh thần.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chu Vĩnh Bình: Cuộc sống người cao tuổi. NXB Thế giới, Hà Nội, 2006.

2. Bộ Tư pháp: Luật người cao tuổi. NXB Tư pháp, Hà Nội, 2010.

3. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Gia đình tuổi trung niên (Tài liệu giáo dục đời sống gia đình), 2009.

4. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Gia đình với người cao tuổi (Tài liệu giáo dục đời sốn gia đình), 2010.

5. PTS. Phạm Khắc Chương: Người già – tiềm năng to lớn trong giáo dục gia đình. 1996.

6. Đại học Dân lập Thăng Long: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp, NXB Đại học Sư phạm, 2007.

7. Đại học Lao động Xã hội: Giáo trình Công tác xã hội nhóm, NXB LĐ-XH, Hà Nội, 2010.

8. Đại học Lao động - Xã hội: Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB LĐ-XH, Hà Nội, 2010.

9. Nguyễn Văn Đồng, Tâm lý học phát triển, giai đoạn thanh niên đến tuổi già, NXB Chính trị Quốc gia, 2007.

10. BS. Nguyễn Ý Đức: Vấn đề người cao tuổi. NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

    

                                                      Th.S Lê Thị Phương

 
Khoa Khoa học XH&NV