Youtube Instagram Phản hồi E-office Lịch công tác
E-office Lịch công tác
Trang chủ ❯ Giới thiệu ❯ Khoa  ❯ Khoa Khoa học XH&NV ❯ Chi tiết
       
  24/06/2020 00:32        

Tìm hiểu sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân phường Phước Hải, thành phố Nha Trang trong quá trình đô thị hóa (giai đoạn 2000 - 2009).

1. Đặt vấn đề:

     Đô thị hoá là một xu hướng tất yếu của sự phát triển. Đô thị hoá giúp mở rộng không gian đô thị, chỉnh trang cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nhờ vậy mà chất lượng cuộc sống của người dân từng bước được nâng cao. Thực tế cho thấy, đô thị hóa đã có những tác động tích cực đến đời sống của người dân. Tuy nhiên, quá trình này cũng đưa đến không ít nhữnqg ảnh hưởng tiêu cực mà nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì rất dễ mang lại những hậu quả nghiêm trọng.

     Nha Trang là một thành phố lớn của khu vực Nam Trung bộ, là trung tâm kinh tế - văn hoá - dịch vụ - du lịch của Tỉnh Khánh Hoà nên nhu cầu phát triển và mở rộng không gian đô thị là điều tất yếu. Để đáp ứng những tiền đề cho sự phát triển cả về dân số - kinh tế - xã hội, từ lâu Nha Trang đã từng bước được đô thị hoá, nhưng trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay, quá trình này mới thực sự trở nên mạnh mẽ và có những tác động sâu sắc đến bộ mặt của thành phố sau khi Nha Trang được công nhận là đô thị loại một (ngày 22/04/2009). Những diễn štiến của quá trình đô thị hóa và việc triển khai thực hiện các dự án quy hoạch tại Thành phố Nha Trang đã ít nhiều tác động đến đời sống của người dân, nhất là người nông dân bị thu hồi đất và bắt buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp. Đời sống kinh tế của gia đình nông hộ vốn đã có nhiều biến đổi trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sẽ tiếp tục đối diện với những xáo trộn và biến động lớn trong tương lai khi gia đình họ không còn đất để canh tác.

     Chuyên đề này được đúc kết từ một đề tài nghiên cứu về “Sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven Thành phố Nha Trang trong quá trình đô thị hóa”, điển cứu tại Phường Phước Hải, là một phường nằm ở vùng ven Thành phố Nha Trang, nơi đang có nhiều dự án quy hoạch được triển khai nhằm tìm hiểu sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang trong quá trình đô thị hóa mà cụ thể là trong 10 năm trở lại đây, từ trước khi các dự án quy hoạch được cấp quyết định phê duyệt đến khi dự án bắt đầu triển khai và tiến hành thu hồi đất, từ đó đưa ra những khuyến nghị góp phần giúp các hộ nông dân ổn định cuộc sống, hạn chế những khó khăn, bất trắc trong tiến trình phát triển đất nước. Thời điểm nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 2000 đến năm 2004, thời điểm này tốc độ đô thị hoá tại thành phố Nha Trang nói chung và phường Phước Hải nói riêng diễn ra còn chậm và chưa ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nông dân; giai đoạn 2 từ năm 2005 đến năm 2009, đây là giai đoạn sau khi các dự án quy hoạch đô thị tại phường Phước Hải và các khu vực lân cận được cấp quyết định phê duyệt và bước đầu triển khai, một mặt đã góp phần tích cực vào công tác chỉnh trang, mở rộng không gian đô thị, mặt khác đã tác động và làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế của các hộ nông dân trong khu vực triển khai dự án, nhất là những hộ thuộc diện bị thu hồi đất.

2. Nội dung:

2.1. Khái niệm đô thị hóa và nhìn nhận quá trình đô thị hóa tại Nha Trang:

     Đô thị hoá đã được nhìn nhận ở nhiều chiều cạnh khác nhau, một trong số đó là quan điểm của tác giả Lê Du Phong [3, tr.14-16], theo tác giả: 

     Trên quan điểm một vùng: Đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.

     Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu.

     Đô thị hoá là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị của các nhóm dân cư. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hoá cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong những điều kiện mới mà biểu hiện tập trung là sự thay đổi cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động.

    Đô thị hoá ngoại vi là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp và kết cấu cơ sở hạ tầng… tạo ra các cụm đô thị, liên đô thị… góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn.

     Theo tác giả Nguyễn Minh Hoà: “Đô thị hoá là quá trình chuyển đổi từ tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) sang phi tam nông. Tức là chuyển đổi hình thức cư trú từ những nơi vốn là nông thôn lạc hậu, nghèo nàn với kiểu cư trú truyền thống trở thành nơi cư trú mới có đời sống văn minh và quan trọng nhất ở đây là sự chuyển đổi nghề nghiệp từ những người nông dân làm nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp. Đó còn là quá trình chuyển đổi liên tục ở nơi vốn là đô thị rồi, nhằm làm thay đổi diện mạo và chất lượng sống của người dân thành thị” [4, tr.108].

     Tóm lại, đô thị hoá là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số.

     Từ các khái niệm trên có thể nhận thấy rằng: đô thị hoá diễn ra tại thành phố Nha Trang nói chung và phường Phước Hải nói riêng mang đặc trưng của đô thị hoá ngoại vi, bởi vì sự thay đổi của địa phương là kết quả của quá trình phát triển kết cấu cơ sở hạ tầng, nhằm tạo ra các khu đô thị mới, góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn. Quá trình này sẽ thúc đẩy sự hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Như vậy, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang đang trong quá trình đô thị hoá mạnh với đầy đủ những đặc trưng nói trên, đó chính là: quá trình chuyển đổi từ tam nông sang phi tam nông, đặc biệt là sự chuyển đổi nghề nghiệp từ những người nông dân làm nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp. Quá trình này sẽ thực sự diễn ra khi các dự án được triển khai, từ đồng ruộng sẽ “mọc lên” những chung cư khang trang, cao ốc văn phòng, công viên và trung tâm giải trí, người nông dân sẽ trở thành những người công nhân, người buôn bán hoặc làm dịch vụ…

     Với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên và tiềm năng phát triển kinh tế, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ du lịch, thành phố Nha Trang đã, đang và sẽ thu hút một lượng dân nhập cư khá lớn đến để làm ăn, sinh sống hoặc tham quan nghĩ dưỡng. Do đó, trong thời gian tới đây, tỷ lệ dân thành thị và mật độ dân số của thành phố Nha Trang sẽ tiếp tục gia tăng. Điều này sẽ làm nảy sinh những mâu thuẫn xã hội giữa nhu cầu nhà ở, cơ sở hạ tầng… với khả năng đáp ứng về không gian đô thị của thành phố Nha Trang. Vì vậy, vấn đề quy hoạch, mở rộng thành phố là một vấn đề thiết yếu, phường Phước Hải là một minh chứng cụ thể.

2.2. Những biến đổi trong đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven Thành phố Nha Trang trong quá trình đô thị hóa

2.2.1. Những biến đổi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp

a. Diện tích canh tác  

     Năm 1993, thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ, UBND và hợp tác xã Phường Phước Hải đã tiến hành phân đất cho các gia đình xã viên chủ động canh tác. Tổng diện tích đất nông nghiệp của phường là 120 ha. Năm 2002, diện tích trồng lúa hai vụ là 80 ha, giảm xuống còn 40 ha năm 2005 và 15 ha năm 2007. Như vậy, chỉ trong vòng 5 năm, diện tích trồng lúa toàn phường đã giảm trên 75% và biến động diễn ra mạnh nhất vào thời điểm năm 2005 khi các dự án quy hoạch đô thị bắt đầu được triển khai trên địa bàn phường và các vùng lân cận. Về diện tích trồng các loại rau, hoa màu, cũng có sự sụt giảm nhưng không đáng kể: từ năm 2002 đến năm 2005 diện tích canh tác chỉ giảm 2 ha, từ 17 ha xuống còn 15 ha. Lúa và rau màu là hai loại nông sản chính, chiếm phần lớn diện tích canh tác toàn phường, ngoài ra trong vùng còn có một số diện tích mặt nước, đất trồng cây lâu năm (tre, dừa) và một số loại cây khác, cũng có sự biến động về diện tích nhưng không đáng kể.

     Riêng đối với 150 hộ nông dân được chọn để thực hiện khảo sát, nghiên cứu, đã tiến hành thu thập thông tin về những biến đổi đời sống kinh tế của các hộ ở hai giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 (giai đoạn 1) và từ năm 2005 đến năm 2009 (giai đoạn 2). Từ năm 2005 đến năm 2009, số hộ không sản xuất lúa so với giai đoạn trước tăng 65,8% từ 8,7% lên đến 74,5%. Ngược lại, với những hộ còn canh tác, số hộ có diện tích dưới 1000 m2 cũng giảm còn 0,7%; từ 1000 m2 đến dưới 2000 m2 giảm còn 8,1%. Không còn hộ nông dân nào có diện tích canh tác từ 4000 m2 trở lên. Tương tự, diện tích và số hộ trồng trồng rau ruộng, trồng hoa cũng giảm mạnh, đặc biệt trong giai đoạn 2.

     Khi diện tích canh tác các loại nông sản đều giảm thì điều đó đồng nghĩa với việc đất nông nghiệp đã được sử dụng vào mục đích khác hoặc bỏ hoang. Theo kết quả khảo sát, trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004, tại địa bàn nghiên cứu không có bất cứ một hộ nông dân nào bỏ ruộng hoang, nếu không thể sản xuất thì hộ cũng thuê mướn lao động hoặc san nhượng cho hộ khác sản xuất. Nhưng sang giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009, số hộ có ruộng bỏ hoang đã tăng lên một cách đột biến với 114 hộ chiếm 75,8%; có hộ bỏ hoang một phần và có hộ bỏ hoang hoàn toàn diện tích canh tác. Trong số các hộ bỏ ruộng hoang, có 3,3% hộ bỏ hoang dưới 1000 m2; cao nhất là tỷ lệ hộ bỏ hoang diện tích từ 1000 m2 đến 2000 m2 với 20,8%; 16,8% là tỷ lệ hộ bỏ hoang từ 2000 m2 đến dưới 3000 m2; từ 3000 m2 đến dưới 4000 m2 là 17,4%; từ 4000 m2 đến dưới 5000 m2 là 11,4%; số hộ có diện tích bỏ hoang từ 5000 m2 đến dưới 6000 m2 chiếm 2,8% và 3,3% là tỷ lệ số hộ bỏ hoang từ 6000 m2 trở lên.

     Như vậy, từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, số hộ sản xuất và diện tích canh tác đối với từng loại nông sản đều có sự suy giảm đáng kể, trong đó biến động nhiều nhất là diện tích sản xuất lúa, tiếp theo là diện tích rau xanh, rau ruộng nước và thấp hơn hết là diện tích trồng hoa – cây cảnh. Đồng thời với sự suy giảm số hộ và diện tích canh tác các loại nông sản là sự gia tăng số hộ và diện tích bỏ hoang.

b. Điều kiện sản xuất

     Theo đánh giá của các hộ nông dân, trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004, yếu tố thủy lợi tương đối ổn định, đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009, một sự thay đổi lớn theo chiều hướng xấu khi có tới 66,7% hộ nông dân đánh giá điều kiện thủy lợi rất khó khăn và 26,0% đánh giá ở mức khó khăn. Nguyên nhân của vấn đề này là: “Bắt đầu kể từ vụ ba năm 2005, coi như là Nhà nước quy hoạch khu dân cư Vĩnh Điềm Trung, thuộc Xã Vĩnh Hiệp thì nguồn nước trước đây là Phường Phước Hải hợp đồng với Cầu Đôi – Suối Dầu bơm nước từ Cầu Đôi qua Vĩnh Hiệp, đến Vĩnh Hiệp rồi về Phước Hải, nhưng sau khi Nhà nước thi công mở dự án Vĩnh Điềm Trung đã lấp mất hệ thống bơm nước từ Cầu Đôi về Phước Hải” (PVS Chủ tịch Hội Nông dân phường). Như vậy, nguyên nhân chính khiến điều kiện thủy lợi của nông dân Phước Hải gặp khó khăn là do việc triển khai xây dựng các dự án quy hoạch đô thị ở các khu vực lân cận, trong quá trình san ủi mặt bằng đã lấp các hệ thống thủy lợi đầu nguồn khiến cánh đồng khô hạn, nông dân không thể sản xuất.

     Nhìn chung, dưới tác động của đô thị hóa, mà nhất là việc triển khai thiếu đồng bộ các dự án quy hoạch khiến điều kiện sản xuất của các hộ nông dân thuộc phường Phước Hải gặp rất nhiều khó khăn. Điều kiện sản xuất khó khăn đã kéo theo những khó khăn trong đời sống kinh tế, hạn chế cả về sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần. Những khó khăn này không chỉ các hộ nông dân ở khu vực khảo sát gặp phải mà đây là vấn đề chung của nông dân cả nước. Trong khi sản xuất nông nghiệp chỉ lời 30% chưa tính sức lao động, giá cả thì bấp bênh lại thêm vật tư sản xuất càng ngày càng cao khiến đời sống của người nông dân trở nên cơ cực và thiếu bền vững.

c. Sản lượng thu hoạch            

     Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp của Phường Phước Hải bị thu hẹp và bỏ hoang trên diện rộng đã ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch của từng loại nông sản mà nhiều nhất là lúa. Từ năm 2000 đến năm 2004, năng suất bình quân toàn vùng ước tính trên 50 tạ/ha, nhưng từ năm 2005 đến năm 2009, do không có nước, ruộng bỏ hoang nhiều lại bị chuột phá hoại, tính trên diện tích canh tác thì năng suất bình quân toàn vùng không đến 30 tạ/ha. Sản lượng lúa thu hoạch mỗi vụ của các hộ nông dân từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 cũng giảm đi đáng kể: ở giai đoạn 1, chỉ có 3,6% số hộ có sản lượng dưới 1000 kg/vụ; 48,9% số hộ có sản lượng từ 1000 kg/vụ đến dưới 3000 kg/vụ; số hộ có sản lượng từ 3000 kg/vụ đến dưới 5000 kg/vụ chiếm 38,7% và 8,8% là tỷ lệ các hộ có sản lượng từ 5000 kg/vụ trở lên. Bước sang giai đoạn 2, trong tổng số 150 hộ được khảo sát có tới 98 hộ trước đây trồng lúa nhưng đến nay thì không còn sản xuất mà đều bỏ ruộng hoang, số hộ này chiếm tỷ lệ 72,1%. Với những hộ còn canh tác thì có 5,1% số hộ có sản lượng thu hoạch dưới 1000 kg/vụ; 22,1% có sản lượng từ 1000 kg/vụ đến dưới 3000 kg/vụ; còn lại chỉ duy nhất 0,7% số hộ có sản lượng từ 3000 kg/vụ trở lên và không còn hộ nào đạt sản lượng trên 5000 kg/vụ.

     Như vậy, chỉ sau 5 năm kể từ khi nhà nước triển khai các dự án quy hoạch đô thị khiến điều kiện sản xuất của bà con nông dân gặp nhiều khó khăn, có hơn 70,0% hộ nông dân không còn sản xuất lúa và sản lượng thu hoạch của từng hộ gia đình cũng giảm đi đáng kể. Sự sụt giảm này đã kéo theo những biến đổi về thu nhập và việc làm.

2.2.2. Những biến đổi về việc làm và thu nhập

a. Việc làm

     Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004, trong số các hộ nông dân được khảo sát có 1 hộ không còn sản xuất nông nghiệp chiếm 0,7%; nhưng đến năm 2009 con số này đã tăng lên 37 hộ, tương đương 24,7%; lao động trong các hộ này đều chuyển sang hoạt động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp hoặc một số người do tuổi cao nên không thể tiếp tục canh tác. Ở giai đoạn 1, trong số những hộ còn sản xuất nông nghiệp có 34,0% hộ chỉ có 1 lao động làm nông, đến giai đoạn 2 tỷ lệ này tăng lên 44,6%. So với giai đoạn 1, ở giai đoạn 2 số hộ có 2 nhân khẩu làm nông giảm 10,6%; số hộ có 3 nhân khẩu làm nông giảm 21,3% và không còn hộ nào có từ 4 nhân khẩu trở lên làm nông trong khi ở giai đoạn 1 tỷ lệ này là 2,7%.

     Điều kiện canh tác hạn chế, ruộng bỏ hoang vì không có nước, sản lượng thu hoạch giảm, đời sống của các hộ nông dân gặp nhiều khó khăn, một số lao động trong hộ phải vừa sản xuất nông nghiệp vừa kiếm việc làm thêm. Trước đây, tỷ lệ hộ nông dân có lao động nông nghiệp phải đi làm thêm là 22,0%; đến nay tỷ lệ này đã tăng lên 36,7%. Nói là làm thêm nhưng thực chất là đi làm thuê theo thời vụ (nhổ cỏ, tỉa hoa, tưới nước,…) cho một số hộ nông dân thiếu lao động hoặc tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, phụ nữ thì nhận đồ về may, đàn ông thì chạy xe thồ, bốc vác, đẩy ba gác,… “Đời sống của bà con dưới ảnh hưởng của dự án kéo dài thế này rất là khó khăn, nhiều hộ rơi vào cảnh cùng quẫn, có hộ phải đi bắt ốc bươu vàng để bán kiếm cơm, rồi đi chặt củi, chạy xe thồ, buôn bán chạy chợ…” (PVS Chủ tịch Hội Nông dân).

     Dưới tác động của các dự án quy hoạch đô thị, phần đông người nông dân không thể tiếp tục sản xuất, họ mong muốn chuyển đổi nghề nghiệp nhưng để tìm kiếm một công việc khác ổn định không phải là vấn đề đơn giản. Với độ tuổi chủ yếu là trung niên và trình độ học vấn thấp, người nông dân chỉ có thể làm thuê, lao động phổ thông hoặc công việc thời vụ, thu nhập thấp và thiếu bền vững. Trong hoàn cảnh hiện tại, những hộ nào có đông nhân khẩu hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp hoặc đã chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì đời sống có phần cải thiện hơn, còn những hộ thuần nông hoặc lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao sẽ gặp nhiều khó khăn. Những ngành nghề phi nông nghiệp mà các thành viên trong gia đình nông hộ tham gia hoạt động là: buôn bán, làm dịch vụ, công nhân, cán bộ viên chức, thợ thủ công và làm thuê.

     Bên cạnh buôn bán, các thành viên trong nông hộ còn tham gia hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ với một số công việc như: lái taxi, tiếp thị, uốn tóc, giữ xe, phục vụ quán café,… Tuy nhiên, so với số hộ có người hoạt động buôn bán thì số hộ có người tham gia làm dịch vụ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, ở giai đoạn 1 là 12,0% và giai đoạn 2 tăng lên 26,7%. Một số thành viên khác trong gia đình nông hộ còn xin đi làm công nhân ở một số nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn thành phố như: Nhà máy Dệt Khánh Hòa, xí nghiệp thuốc lá Khatoco, xí nghiệp chế biến thủy hải sản… Ở giai đoạn 1, số hộ có thành viên đi làm công nhân chiếm 16,0%; sang giai đoạn 2 tỷ lệ này là 26,0.

Biểu đồ 1. Số người lao động trong các ngành nghề

Biểu đồ 1: Số người lao động trong các ngành nghề

     Như vậy, nhìn một cách tổng quát thì vấn đề việc làm của các hộ nông dân phường Phước Hải ở cả giai đoạn 1 và giai đoạn 2 đều gặp nhiều khó khăn, nhất là khi các dự án quy hoạch đô thị ở những khu vực lân cận đã được triển khai nhưng dự án trên địa bàn phường thì nhiều năm vẫn chưa thực hiện. Không có điều kiện sản xuất, nhiều nông dân phải chuyển sang buôn gánh bán bưng để “kiếm cơm hàng ngày” hoặc đi làm thuê vì phần đông trong số họ đều đã lớn tuổi và không có trình độ, chỉ có thanh niên hoặc ít ra còn có trình độ thì xin đi làm công tác chính quyền, số còn lại làm công nhân, dịch vụ [Biểu đồ1]. Chính sự hạn chế trong công tác quản lý và phát triển đô thị đưa đến những hệ quả tiêu cực như quy hoạch thiếu đồng bộ, dự án chậm triển khai… khiến đời sống kinh tế nói chung và vấn đề việc làm của các thành viên trong gia đình nông hộ không được đảm bảo. Nói một cách tích cực thì quá trình đô thị hóa ở thành phố Nha Trang và phường Phước Hải đã phần nào thúc đẩy được quá trình chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, nhưng nếu chuyển đổi mà người dân từ chỗ sản xuất nông nghiệp ổn định sang làm những công việc phi nông nghiệp tạm bợ như: buôn gánh bán bưng, làm thuê kiếm sống qua ngày… thì sự chuyển đổi đó không mang tính bền vững, không làm cho đời sống của các hộ nông dân khá lên, thậm chí còn nghèo đi và vất vả hơn.

b. Thu nhập

     Trong tổng thu nhập trung bình một năm của hộ nông dân có sự đóng góp của cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp. Nếu nhìn trên tổng thu nhập nói chung và thu nhập từ phi nông nghiệp nói riêng thì thu nhập trung bình một năm của các hộ nông dân Phường Phước Hải là khá cao, nhưng để có sự đánh giá chính xác hơn nghiên cứu còn tìm hiểu thêm về thu nhập bình quân đầu người một tháng của hộ. Kết quả như sau: ở giai đoạn 1, có 14,7% hộ nông dân có thu nhập bình quân đầu người một tháng dưới 200000 đồng; từ 200000 đồng đến dưới 500000 đồng có 30,0% số hộ; từ 500000 đồng đến dưới 800000 đồng có số hộ đông nhất với 40,7%; 12,7% số hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 800000 đồng đến dưới 1000000 đồng 100000 đồng và từ 1100000 đến dưới 1400000 là 2,0%. Nếu so sánh với chuẩn nghèo trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 là dưới 500000 đồng/người/tháng thì ở giai đoạn 1, trong số 150 được khảo sát thì có tới 44,7% số hộ nông dân thuộc diện hộ nghèo. Sang giai đoạn 2, vẫn còn không ít hộ nông dân có thu nhập bình quân đầu người dưới 200000 đồng với 6,0% và từ 200000 đồng đến dưới 500000 đồng là 13,3%; 24,0% từ 500000 đồng đến dưới 800000 đồng. Đông nhất, với 30,7% số hộ, có thu nhập bình quân đầu người từ 800000 đồng đến dưới 1100000 đồng. Còn lại 15,3% từ 1100000 đồng đến dưới 1400000 đồng và 10,7% từ 1400000 đồng trở lên. Ở giai đoạn 2, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nông dân đã được cải thiện hơn rất nhiều, tuy nhiên nếu so sánh với chuẩn nghèo hiện nay là 800000/người/tháng đối với khu vực nông thôn thì tại địa bàn nghiên cứu vẫn còn 37,3% hộ nông dân nghèo trong số các hộ được khảo sát. Nhưng Phường Phước Hải là một phường nội thành nằm ở vùng ven Thành phố Nha Trang nên sẽ áp dụng chuẩn nghèo ở khu vực thành thị là dưới 1000000 đồng/người/tháng, như vậy tỷ lệ hộ nông dân nghèo chiếm trên 60,0% trong tổng số 150 hộ thuộc mẫu nghiên cứu. Dựa vào kết quả so sánh với chuẩn nghèo thì thực chất tổng thu nhập trung bình một năm của các hộ nông dân Phường Phước Hải là không cao, thu nhập bình quân đầu người một tháng lại càng thấp vì quy mô của các nông hộ ở đây quá lớn.

     Từ các phân tích ở trên cho thấy mặc dù trên danh nghĩa các hộ được khảo sát là hộ nông dân nhưng thu nhập chính của các hộ này lại từ các hoạt động phi nông nghiệp. Và theo nhận định của các hộ nông dân: từ năm 2000 đến năm 2004, có 32,0% số hộ cho rằng thu nhập chính của gia đình họ là từ sản xuất nông nghiệp; trong khi đó có tới 62,0% khẳng định nguồn thu chính là từ công việc buôn bán; còn lại tỷ lệ rất thấp các hộ gia đình có thu nhập chính từ làm dịch vụ (1,3%), từ lương công nhân (0,7%), từ lương cán bộ viên chức (1,3%) và từ tiền công làm thuê (2,7%). Từ năm 2005 đến năm 2009, chỉ còn 8,0% số họ có thu nhập chính từ nông nghiệp; riêng số hộ có nguồn thu chủ yếu từ buôn bán lại tăng lên 74,0%; từ dịch vụ cũng tăng lên 8,0% và từ tiền công làm thuê cũng cao hơn trước với 7,4%; còn lại chỉ có 2,6% chia đều cho số hộ có thu nhập chính từ lương công nhân và lương cán bộ viên chức [Biểu đồ 2, giai đoạn 1: xanh; giai đoạn 2: đỏ].

Biểu đồ 2: Nguồn thu nhập chính của hộ

Biểu đồ 2: Nguồn thu nhập chính của hộ

        Tìm hiểu về vấn đề thu nhập của các hộ nông dân, nghiên cứu gặp một số khó khăn và hạn chế như đã nói ở trên, để khắc phục phần nào những nhược điểm đó nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông tin về nhận định của hộ nông dân “với mức thu nhập đó hộ có đủ sống không?”. Theo kết quả tổng hợp, ở giai đoạn 1 có 22,7% số hộ cho rằng gia đình họ rất thiếu thốn với mức thu nhập của hộ, giai đoạn 2, tỷ lệ hộ cảm thấy rất thiếu thốn với thu nhập của gia đình có phần giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao với 20,7%.

           Như vậy, từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, dưới tác động của đô thị hóa, ở các hộ nông dân đã diễn ra quá trình chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp và theo đó mức thu nhập của các hộ nông dân cũng từng bước được cải thiện, số hộ sống trong cảnh thiếu thốn đã giảm xuống và số hộ dư giả tăng lên khá nhiều. Tuy nhiên, phải nhìn nhận một thực tế, vấn đề thu nhập được cải thiện không phải từ nguồn thu của hoạt động sản xuất nông nghiệp mà chính từ hoạt động phi nông nghiệp, trong đó chủ yếu là buôn bán và mặc dù thu nhập được cải thiện nhưng vẫn còn hơn 50,0% số hộ nông dân phải sống trong cảnh thiếu thốn với mức thu nhập thấp.

Biểu đồ 3: Mức độ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt từ nguồn thu nhập của hộ

Biểu đồ 3: Mức độ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt từ nguồn thu nhập của hộ

2.2.3. Những biến đổi về điều kiện sinh hoạt vật chất

     Tìm hiểu sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang trong quá trình đô thị hóa, nghiên cứu cũng quan tâm đến những đổi thay về điều kiện sinh hoạt vật chất của nông hộ ở các khía cạnh: diện tích đất thổ cư, đặc điểm nhà và tiện nghi gia đình.

a. Đất thổ cư - nhà ở                       

         Phường Phước Hải là một phường nông nghiệp đang được đô thị hóa nên ít nhiều vẫn còn giữ những đặc điểm của xã hội nông thôn truyền thống, đồng thời cũng tiếp thu những ảnh hưởng của lối sống đô thị hiện đại. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 (giai đoạn 1), khi các dự án quy hoạch chưa được triển khai, địa phương vẫn còn giữ khá nhiều những đặc điểm của xã hội nông thôn truyền thống, biểu hiện cụ thể: diện tích đất thổ cư của các hộ gia đình ở đây khá rộng, nhà được xây dựng trên một phần đất theo lối kiến trúc nhà ba gian, phía trước có sân trồng cây cảnh, bên hông nhà có giếng nước và vườn cây. Trong giai đoạn 1, với 150 hộ nông dân được khảo sát, có 19 hộ có diện tích đất thổ cư dưới 50 m2 chiếm 12,7% chủ yếu là những hộ neo đơn hoặc đã chia đất cho con cái tách khẩu ở riêng. Diện tích từ 50 m2 đến dưới 100 m2 có 30 hộ chiếm 20,0%. Đông nhất là các hộ có diện tích đất thổ cư từ 100 m2 đến dưới 150 m2 với 47 hộ chiếm 31,3%. Đây là diện tích trung bình và khá phổ biến của các hộ nông dân tại địa bàn khảo sát, so với các gia đình ở trung tâm thành phố hoặc ở các đô thị lớn thì diện tích này đã là khá rộng, đó là chưa kể diện tích đất vườn phía bên hông nhà. Trong số những hộ được khảo sát còn có 26,7% hộ có diện tích đất thổ cư từ 150 m2 đến dưới 200 m2 và 9,3% là tỷ lệ các hộ có diện tích từ 200 m2 trở lên.

        Bước sang giai đoạn 2 (từ năm 2005 đến năm 2009), do tác động của đời sống kinh tế mà cụ thể là hoạt động sản xuất nông nghiệp và thu nhập – việc làm đã kéo theo sự thay đổi về diện tích đất thổ cư của các gia đình nông dân, nhất là những hộ có diện tích lớn. Kết quả khảo sát cho thấy: chuyển từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, trong khi tỷ lệ  những hộ nông dân có diện tích đất thổ cư dưới 50 m2 không có gì thay đổi thì những hộ có diện tích từ 50 m2 đến dưới 100 m2 tăng thêm 7,2%; đồng thời các hộ có diện tích từ 100 m2 đến dưới 150 m2 cũng tăng 5,4% so với giai đoạn trước. Nhưng ngược lại, các hộ có diện tích đất thổ cư từ 150 m2 đến dưới 200 m2 giảm 4,0% và giảm mạnh nhất là tỷ lệ những hộ có diện tích từ 200 m2 trở lên giảm tới 8,6% chỉ còn 0,7% với 1 hộ duy nhất.

        Như vậy, bước đầu có thể nhận định, dưới tác động của đô thị hóa mà trực tiếp là việc triển khai các dự án quy hoạch đô thị thì diện tích đất thổ cư của các gia đình nông hộ bị thu hẹp lại, nhưng lý do tại sao lại bị thu hẹp? Phải chăng do nhà nước thu hồi? Tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề này, nghiên cứu lại một lần nữa thấy được sự khó khăn, khổ sở của người nông dân khi các dự án quy hoạch triển khai không đồng bộ và kéo dài vô hạn định. Như phần trên đã phân tích, việc người nông dân không có nước để sản xuất đã khiến đời sống kinh tế của gia đình họ gặp rất nhiều khó khăn, việc làm không ổn định, thu nhập thấp lại thêm ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như giá cả tăng vọt… đã khiến nhiều hộ nông dân rơi vào bước đường cùng. Để có chi phí sinh hoạt cho gia đình, nhiều hộ phải tận dụng lợi thế đất đai, nhờ diện tích rộng họ đã bán bớt một phần để lấy tiền trang trải và đó chính là nguyên nhân vì sao diện tích đất thổ cư của các hộ nông dân bị thu hẹp đáng kể từ năm 2005.

        Không những đất thổ cư bị thu hẹp do hiện tượng bán nhà, bán đất để có tiền trang trải cho gia đình mà kéo theo đó còn là sự biến đổi về đặc điểm nhà ở. Trước đây, những gia đình nào có điều kiện kinh tế thì xây nhà kiên cố theo kiểu nhà ba gian, nhà nào khó khăn thì chỉ xây nhà tạm (nhà vách ván hoặc vách tôn). Sau khi bán đất hoặc bán nhà, vì diện tích bị thu hẹp lại sẵn có tiền, một số gia đình đầu tư xây dựng lại nhà cửa, không ít nhà ba gian được thay thế bởi những ngôi nhà theo kiểu hiện đại, nhà tạm cũng được phá bỏ để xây lại kiên cố hơn. Trước năm 2005, trong số các hộ nông dân được khảo sát có 6 nhà tạm, nhưng đến nay thì hoàn toàn không còn nữa vì một số hộ đã bán đất cất nhà, có hộ thì được nhà nước hỗ trợ cho vay để xây sửa nhà theo chủ trương xóa nhà tạm. Từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, số nhà bán kiên cố cũng giảm đi đáng kể từ 60 nhà giảm xuống còn 20 nhà. Ngược lại, số nhà kiên cố lại tăng lên khá nhiều, ở giai đoạn 1 chỉ có 83 nhà kiên cố chiếm 55,3% đến nay đã có tới 116 nhà với 77,3%. Bên cạnh đó, nhà từ 1 đến 2 lầu cũng tăng thêm 12 nhà, thậm chí có hộ nông dân còn xây nhà tới 3 lầu. Nhận thấy ở đây có sự mâu thuẫn, trong khi hoạt động sản xuất nông nghiệp và việc làm gặp nhiều khó khăn nhưng vấn đề nhà ở của các hộ nông dân vẫn được cải thiện rất nhiều. Thực tế thì như trên đã phân tích, tiền để xây sửa nhà tuyệt đối không phải từ thu nhập làm nông mà chủ yếu từ việc bán nhà, bán đất hoặc thu nhập của những thành viên làm phi nông nghiệp.

b. Tiện nghi gia đình

        So với giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 thì đến giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009, hầu hết tỷ lệ hộ gia đình có loại tiện nghi được khảo sát đều tăng lên đáng kể. Ở giai đoạn 1, có 91,3% hộ gia đình có ti vi thì sang giai đoạn 2 tỷ lệ này là 100%. Tỷ lệ gia đình có xe máy cũng tăng từ 80,7% lên 100%. Nồi cơm điện thì tăng từ 56,7% lên 82,7%; Bên cạnh các tiện nghi thiết yếu, phần đông các nông hộ cũng trang bị cho gia đình những tiện nghi hiện đại như: điện thoại, máy giặt, tủ lạnh, máy nước nóng...

c. Những biến đổi về chi tiêu và vay mượn         

Chi tiêu

        Để đánh giá sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân thông qua mức sống, nghiên cứu tiến hành tìm hiểu nội dung các khoản chi của gia đình nông hộ trong một năm tại từng thời điểm nghiên cứu. Kết quả điều tra cho thấy, dù ở giai đoạn 1 hay giai đoạn 2 thì tỷ lệ các hộ nông dân phải chi cho các nhu cầu thiết yếu luôn đạt ở mức 100%, đó là các khoản chi cho: ăn uống, điện sinh hoạt, xăng xe / đi lại, nhu yếu phẩm, quần áo / giầy dép, ngoài ra còn chi cho thuốc / khám chữa bệnh và hiếu hỉ, tang ma. Sự biến đổi chỉ xảy ra đối với một số khoản chi như: nước sinh hoạt, điện thoại, mua sắm tiện nghi gia đình... Như vậy, từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, do những đòi hỏi của cuộc sống hiện đại và nhất là những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, tỷ lệ hộ nông dân phải chi cho các nhu cầu sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần đều có sự gia tăng đáng kể, ngoại trừ chi cho giáo dục.

Vay mượn

        Nhằm đánh giá một cách toàn diện hơn những biến đổi trong đời sống kinh tế của các hộ nông dân dưới tác động của đô thị hóa, ngoài vấn đề sản xuất nông nghiệp, thu nhập, việc làm, điều kiện sinh hoạt vật chất và chi tiêu trong gia đình, nghiên cứu còn tìm hiểu thêm về vấn đề vay mượn của các hộ nông dân. Kết quả khảo sát đã cho thấy, hiện tượng vay mượn trong nông dân diễn ra khá phổ biến ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 2005, nhưng giai đoạn sau tỷ lệ hộ nông dân phải đi vay mượn gấp đôi so với giai đoạn trước. Ở giai đoạn 1, trong số 150 hộ được khảo sát thì có 34 hộ có vay mượn tiền chiếm 22,7%; đến giai đoạn 2 thì tỷ lệ này tăng lên gấp đôi với 68 hộ chiếm 45,3%.

        Nguồn vay của các hộ nông dân cũng khá đa dạng, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là các hộ vay tiền thông qua hội nông dân. Tuy nhiên, giữa hai giai đoạn, tỷ lệ có sự chênh lệch khá lớn: ở giai đoạn 1, tỷ lệ nông hộ vay tiền của hội nông dân chiếm 48,6% nhưng sang giai đoạn 2 tỷ lệ này là 26,9%. Tỷ lệ hộ nông dân vay tiền của ngân hàng và người thân cũng có sự giảm sút nhưng không đáng kể. Ngược lại, tỷ lệ vay từ các nguồn như: hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, bạn bè hoặc người cho vay thì lại gia tăng, trong đó tỷ lệ tăng cao nhất là số hộ nông dân vay tiền của những người cho vay chuyên nghiệp mà họ vẫn thường gọi là những người “cho vay nóng”. Ở giai đoạn 1, tỷ lệ “vay nóng” chỉ là 5,7% nhưng đến giai đoạn 2 lại lên tới 22,6%.

        Qua đó cho thấy, khi gặp khó khăn về tài chính, các hộ nông dân đã tìm đến nhiều nguồn vay khác nhau, trong đó chủ yếu vẫn là hội nông dân. Tuy nhiên, giữa hai giai đoạn có một số sự thay đổi đáng chú ý, trong khi tỷ lệ nông hộ vay tiền thông qua hội nông dân giảm xuống đáng kể thì tỷ lệ hộ vay tiền từ các chủ cho vay lại tăng lên rõ rệt. Nguyên nhân chính là do thủ tục vay tiền thông qua hội nông dân khá phức tạp, khoản cho vay cũng không nhiều và phải mất thời gian chờ đợi xét duyệt, thậm chí có trường hợp chờ một thời gian nhưng kết quả lại không được vay vì số hộ vay quá đông phải xếp theo thứ tự ưu tiên, trong khi đó điều kiện sản xuất thì hạn chế mà cái ăn lại hàng ngày nên nhiều hộ gia đình phải đi “vay nóng” của các chủ nợ, một phần cũng vì có suy nghĩ cứ vay rồi khi nào có tiền đền bù sẽ trả. Nhiều năm trôi qua, tiền đền bù thì chưa có mà nợ gốc, nợ lãi mỗi ngày một tăng, có hộ đã phải bán nhà, thậm chí “bán đất non” để trả nợ. Như vậy, từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, tỷ lệ hộ nông dân có vay mượn tiền đã tăng lên đáng kể. Mục đích vay chủ yếu là để kinh doanh, sản xuất nông nghiệp và chi phí sinh hoạt, ngoài ra ở giai đoạn 2 một số hộ nông dân còn vay mượn để xây sửa nhà và mua sắm tiện nghi gia đình. Về nguồn vay có sự dịch chuyển từ các nguồn vay chính thức sang các nguồn vay phi chính thức. Số hộ chưa hoàn trả các khoản vay mượn chiếm tỷ lệ khá cao, hầu hết các gia đình đều có tâm lý chờ đến khi nhà nước đền bù sẽ có tiền trả nợ.

d. Mức sống:

        Ở đây không thể có sự chính xác tuyệt đối khi để các hộ nông dân tự đánh giá về mức sống của gia đình họ và so sánh với mức sống của các gia đình phi nông nghiệp nhưng điều quan trọng là chính họ sẽ biết được mức sống của gia đình mình biến đổi như thế nào qua hai giai đoạn. Kết quả cho thấy, trên tổng thể mức sống của các hộ nông dân ở giai đoạn 2 có phần cải thiện hơn so với giai đoạn 1, số hộ nghèo và cận nghèo giảm xuống, số hộ trung bình và khá giả tăng lên, đồng thời có thêm tỷ lệ nhỏ hộ giàu nhưng mức sống của họ vẫn thấp hơn mức sống của các hộ phi nông nghiệp. Hay nói cách khác, mặc dù điều kiện sản xuất khó khăn nhưng thu nhập của các hộ nông dân vẫn được cải thiện và nâng cao nhờ thu nhập của các thành viên hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, do đó các hộ phi nông nghiệp có mức sống khá hơn các hộ làm nông nghiệp là chuyện hiển nhiên.

2.3. Xu hướng biến chuyển đời sống kinh tế của các hộ nông dân Phường Phước Hải trước và sau khi bị thu hồi đất bởi các dự án quy hoạch

2.3.1. Đền bù và thu hồi đất

     Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuyệt đại đa số các hộ nông dân trong phường đều có đất thuộc dự án. Cụ thể: 18,6% hộ nông dân bị thu hồi dưới 1000 m2; 14,7% bị thu hồi từ 1000 m2 đến dưới 2000 m2; 34,7% là tỷ lệ các hộ bị thu hồi từ 2000 m2 đến dưới 3000 m2 và từ 3000 m2 đến dưới 4000 m2 có 16,6% hộ. Còn lại là các hộ bị thu hồi từ 4000 m2 đến dưới 6000 m2.

     Nhìn chung, sau khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án quy hoạch thì các hộ nông dân ở Phường Phước Hải sẽ nhận được một số tiền đền bù khá lớn so với thu nhập hàng năm của họ khi còn sản xuất nông nghiệp. Một vấn đề cần được quan tâm là sau khi có tiền đền bù các hộ nông dân sẽ dùng vào những mục đích gì? Theo thông tin được đại diện hộ nông dân cung cấp, gia đình của họ sẽ sử dụng tiền đền bù vào các mục đích sau: nhiều nhất là các hộ nông dân dùng một phần số tiền đó để cho con hoặc cho người thân, chiếm tỷ lệ 75,3% - điều này cũng khá hợp lý vì chủ hộ hay những người đứng tên nhận tiền đền bù phần đông đều lớn tuổi nên việc họ cho con cái làm vốn cũng là điều dễ hiểu. Một số chủ hộ khác ở độ tuổi trung niên cũng cần tìm việc làm khác nên tỷ lệ hộ sử dụng tiền đền bù vào mục đích này cũng khá cao (54,0%).

     Một dự định khác cũng chiếm tỷ lệ khá cao là gửi tiết kiệm (48,7%), khi chưa biết sử dụng tiền đền bù vào mục đích gì hoặc với những vợ chồng chủ hộ đã lớn tuổi sau khi cho con cái họ giữ lại một ít gửi tiết kiệm để “dưỡng già”, có người thì mua vàng (20,0%). Khi được hỏi về kế hoạch sử dụng tiền đền bù của gia đình, một nông dân lớn tuổi ở đội sản xuất 3 chia sẻ: “Thì cũng chia cho con cái mỗi đứa một ít để làm vốn, còn thì ông gửi ngân hàng hàng tháng lấy lãi cũng đủ sống, ông giờ già rồi cũng không làm được gì, bây giờ người ta chưa lấy đất thì quấy quá mấy cây rau, cây bông cho nó khuây khỏa tuổi già, ngồi một chỗ cũng buồn, đến khi người ta lấy đất rồi thì thôi”. Gần 50% hộ gia đình còn dùng tiền đền bù để mua sắm tiện nghi gia đình (46,7%) và xây sửa nhà (40,7%). Mặc dù đây chỉ mới là dự định của các hộ nông dân, nhưng tỷ lệ này cũng tương tự với một số nghiên cứu khác về hộ gia đình đã sử dụng tiền đền bù vào việc xây hoặc sửa sang lại nhà cửa. Tuy nhiên, nếu họ lạm dụng và không có kế hoạch rõ ràng cho việc này thì rất dễ sa vào      hoang phí.  

2.3.2. Định hướng chuyển đổi nghề nghiệp                    

     Khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất của các nông hộ thì một trong những vấn đề bức thiết nhất là làm sao để người nông dân có thể chuyển đổi nghề nghiệp một cách bền vững. Vấn đề chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân chịu tác động của nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan. Ở đây, nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến khía cạnh chủ quan từ phía người nông dân, trước tiên là dự định của họ về nghề nghiệp trong tương laai sau khi không còn đất để canh tác. Qua khảo sát, đông nhất là các hộ nông dân có thành viên làm nông nghiệp dự định chuyển sang buôn bán nhỏ với 34,7% vì, theo họ, đây là nghề phù hợp nhất với hoàn cảnh của gia đình và bản thân người chuyển đổi nghề nghiệp, công việc này không đòi hỏi trình độ, không khó khăn về lứa tuổi, khỏi phải mất thời gian đào tạo và có sẵn vốn từ tiền đền bù. Bên cạnh công việc buôn bán, một lĩnh vực khác cũng được lựa chọn khá phổ biến là làm dịch vụ, nhưng cũng chỉ mang tính lao động phổ thông như: đàn ông thì dự định đi giữ xe, phụ xe hoặc chạy xe thồ; phụ nữ thì mở dịch vụ giặt ủi, trông trẻ hoặc phụ bếp; một số thanh niên thì đi phục vụ bàn cho các quán café, quán ăn hoặc xin đi bán vé xe buýt,… Đây là những công việc được khá nhiều người trả lời hoặc thành viên trong hộ gia đình dự định chuyển đổi. Nhận thấy, những công việc này chủ yếu mang tính thời vụ, nghĩa là nếu thị trường lao động cần thì họ có thể tiến hành công việc của mình nếu không cần thì họ có thể mất việc bất cứ lúc nào, nói chung đó là những công việc thiếu tính ổn định. Một số người không có dự định rõ ràng về công việc, lĩnh vực họ chọn là làm thuê, ai cần gì thì làm đó, chính bản thân những người trả lời dự định sẽ đi làm thuê nhưng cũng chỉ biết có vậy, họ chưa định hình được cụ thể họ sẽ làm công việc gì, số lượng này chiếm 12,7%.

     Với đặc thù những người làm nông nghiệp phần đông là những người lớn tuổi, nên trong số này không ít người dự định sau khi Nhà nước thu hồi đất sẽ không làm gì, chỉ lấy tiền đền bù gửi ngân hàng lấy lãi hàng tháng để sinh sống. Trong số những gia đình được hỏi, chỉ có 4 hộ có người dự định đi làm công nhân với 2 trường hợp và 2 trường hợp còn lại xin đi làm ở UBND phường. Đáng bận tâm hơn hết là 22 hộ gia đình chưa biết sẽ chuyển đổi sang nghề nghiệp gì, với họ còn ruộng thì còn làm, khi nào Nhà nước thu hồi đất thì mới tính đến chuyện đi kiếm việc làm khác.

     Các hộ nông dân trong khu vực khảo sát còn gặp phải rất nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là vấn đề tuổi tác. Theo kết quả khảo sát về độ tuổi trung bình của lao động nông nghiệp, tập trung đông nhất là các hộ có độ tuổi từ 40 tuổi đến 49 tuổi với 51,7%; tiếp theo là độ tuổi từ 50 tuổi đến 59 tuổi chiếm 33,3%. Bên cạnh những khó khăn về tuổi tác, vấn đề không có trình độ học vấn, nhất là trình độ tay nghề, cũng là rào cản lớn để người nông dân sau khi bị thu hồi đất có thể tiếp cận với việc làm mới. Khi tổng quan về mẫu nghiên cứu, kết quả cũng đã bộc lộ những điểm yếu của cộng đồng này là phần lớn những người nông dân trong vùng là những người lớn tuổi, kéo theo là trình độ học vấn thấp, chỉ từ cấp II trở xuống và một số thì không biết chữ, trong đó có cả chủ hộ. Khó khăn này khiến người nông dân không thể học nghề một cách bài bản và cũng không thể được tiếp nhận vào những công việc có thu nhập cao và ổn định. Tỷ lệ những hộ gia đình có khó khăn về trình độ học vấn là 16,7% và khó khăn về trình độ tay nghề là 35,3%. Thực chất tỷ lệ này không cao, nhưng không phải vì các hộ ít gặp khó khăn về vấn đề này mà rõ ràng là họ không nghĩ tới việc tìm một nghề thông qua đào tạo, họ chỉ nghĩ đến việc đi buôn bán hoặc làm dịch vụ, làm thuê,… là những công việc không cần trình độ học vấn và tay nghề.      

Bảng 1: Khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp

Khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp

Tần suất

Phần trăm

Lớn tuổi

69

46,0

Không có sức khỏe

21

14,0

Không có trình độ học vấn

25

16,7

Không có tay nghề

53

35,3

Không được ai giúp đỡ

58

38,7

Không có khó khăn

19

12,7

 

     Như vậy, những khó khăn nông hộ gặp phải trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp chủ yếu xuất phát từ những yếu tố mang tính chủ quan về phía người nông dân: lớn tuổi, không có trình độ học vấn – tay nghề, bản tính thụ động… Tuy nhiên, tất cả không hoàn toàn phụ thuộc vào người nông dân mà nó còn bị chi phối bởi rất nhiều các yếu tố bên ngoài: chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất, vai trò của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội.  Phải nhìn nhận một thực tế, trong khi những rào cản từ phía chủ quan người nông dân là khó có thể tránh khỏi và cũng không thể giải quyết “một sớm một chiều” thì những yếu tố bên ngoài nếu được hoạch định và triển khai tốt có thể phát huy hiệu quả, góp phần khắc phục những khó khăn của gia đình nông hộ. Thế nhưng tại địa bàn nghiên cứu, các yếu tố này không những không tạo điều kiện hỗ trợ người nông dân mà còn gây cản trở và tác động tiêu cực đến tâm lý của người nông dân như đã phân tích ở phần nhận thức của người nông dân về các dự án quy hoạch. Ngay cả khi đề cập đến vấn đề – những ai sẽ giúp đỡ hộ chuyển đổi nghề nghiệp – thì 26,0% đại diện nông hộ cho biết đó là người thân trong gia đình, những người làm phi nông nghiệp hoặc những người đã chuyển đổi nghề nghiệp sẽ giúp đỡ những thành viên vẫn còn làm nông tìm một việc làm khác; chỉ có 2,4% hộ gia đình được bạn bè và người quen giúp đỡ; còn lại 71,6% không nhận được sự hỗ trợ của bất cứ ai mà từng thành viên phải tự thân vận động. Tuyệt nhiên không có sự nhìn nhận vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức kinh tế – chính trị – xã hội đối với các gia đình nông hộ ngoài khoản hỗ trợ hai triệu đồng cho mỗi thành viên trong độ tuổi lao động. Điều này cho thấy người nông dân sở tại không nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các cấp ban ngành và chính quyền địa phương hay nói đúng hơn là người nông dân không dám trông mong vào điều này trong khi họ lại rất cần sự giúp đỡ.

     Trong rất nhiều các nghiên cứu khác, người nông dân cũng rơi vào những khó khăn tương tự khi chuyển đổi nghề nghiệp trong quá trình đô thị hóa, chính điều đó đã tạo động lực thúc đẩy một xu hướng khá phổ biến người nông dân di cư vào các đô thị lớn để kiếm kế sinh nhai. Mặc dù tại địa bàn nghiên cứu việc thu hồi đất sẽ diễn ra trên diện rộng, tuy nhiên trong quá trình khảo sát chỉ có 5,3% hộ nông dân có người dự định di cư để tìm việc; còn lại có tới 94,7% nông hộ không có ý định di cư. Bước đầu kết quả này cho thấy có sự khác biệt giữa địa bàn được khảo sát (phường Phước Hải – vùng ven thành phố Nha Trang) với các địa phương khác trong các nghiên cứu trước đó như nghiên cứu của tác giả Lê Thanh Sang về nông dân ở Long An và Quãng Ngãi [7], nghiên cứu của tác giả Lưu Song Hà [1] và tác giả Bùi Thị Ngọc Lan về nông dân ở đồng bằng sông Hồng: “Lao động nông dân mất việc làm do thu hồi đất phần lớn đã ở độ tuổi trung niên, rất khó chuyển đổi nghề nghiệp, số còn lại là thanh niên chưa được chuẩn bị nghề nghiệp nên cũng khó tìm được việc làm… Vì vậy, số này chủ yếu di chuyển ra các đô thị tìm việc làm không ổn định và thu nhập thấp. Đây là vấn đề lớn đặt ra cho vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng, cả nước nói chung” [5, tr.75]. Như vậy, xu hướng về sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang sẽ có những đặc điểm khác biệt so với các địa phương khác trong cả nước đó là hầu hết người nông dân sẽ không di cư để tìm việc làm mà sẽ chuyển đổi nghề nghiệp ngay tại địa phương với các công việc chủ yếu là lao động phổ thông giản đơn. Với những công việc đó, thu nhập của họ sẽ không cao và thiếu tính ổn định, vì vậy đời sống kinh tế sẽ chậm được cải thiện nếu họ sử dụng tiền đền bù không hiệu quả. Tuy nhiên, với những hộ từ trước đã có đông nhân khẩu hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, sẽ chuyển đổi nghề nghiệp dễ dàng hơn, ổn định cuộc sống nhanh hơn và đời sống kinh tế cũng mau khắm khá hơn những hộ thuần nông và những hộ có ít nhân khẩu hoạt động phi nông nghiệp. 

2.4. Nguyên nhân thúc đẩy và làm biến đổi đời sống kinh tế của người nông dân vùng ven thành phố Nha Trang

     Nguyên nhân bắt nguồn từ những mâu thuẫn đưa đến những biến đổi trong đời sống kinh tế của người dân cả nước nói chung và các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang nói riêng. Vì khi xã hội ngày một phát triển cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, đồng thời với vấn nạn dân số ngày một gia tăng, không gian sống bị thu hẹp, nhất là tại các thành phố lớn trong đó có thành phố Nha Trang, thì một nhu cầu tất yếu là phải mở rộng không gian đô thị và nâng cấp cơ sở hạ tầng. Để đáp ứng các nhu cầu đó, nhiều dự án quy hoạch đã được thiết kế, phê duyệt và triển khai trên thực tế. Tuy nhiên trong quá trình triển khai đã nảy sinh một số mâu thuẫn, có thể được khái quát như sau:

     Thứ nhất là những mâu thuẫn trong nội tại bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương, những mâu thuẫn giữa thực tại phát triển xã hội và khả năng nhận thức của bộ máy chính quyền, sự hạn chế về năng lực quản lý và quy hoạch đô thị, sự tắc trách trong quá trình ban hành và thực thi các chính sách liên quan đến công tác đền bù, giải tỏa và thu hồi đất. Chính sách thường xuyên thay đổi, dự án liên tục phải điều chỉnh, các công trình đã được phê duyệt nhưng sau nhiều năm chưa được triển khai vì không biết áp dụng khung pháp lý nào. Để sáng tỏ chủ đầu tư làm công văn kiến nghị lên UBND thành phố, từ thành phố chuyển lên tỉnh, tỉnh lại chuyển đến các bộ, rồi từ bộ đệ trình sang chính phủ, sau khi chính phủ xem xét và có quyết định lại chuyền ngược qua các cấp, quy trình này nhanh thì vài tháng không thì cũng phải vài năm, đến khi triển khai thì chính sách lại tiếp tục sửa đổi. Những bất cập đó đã đưa đến hệ quả nhiều dự án cứ “giẫm chân một chỗ mà không biết khi nào mới đi đến đích”, lại thêm sự thiếu đồng bộ trong công tác quy hoạch khiến nông dân có đất mà không thể canh tác vì hệ thống thủy lợi không được cải tạo, nâng cấp, mùa khô thì không có nước, mùa mưa thì ngập úng, nông dân cũng không dám đầu tư vào sản xuất vì sợ bị thu hồi đất nhưng mãi cũng chưa thu hồi. Vì vậy, đời sống kinh tế và nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. 

     Thứ hai là những mâu thuẫn trong nội tại các chủ đầu tư: khi tiến hành thiết lập các dự án quy hoạch, ngoài mục đích đáp ứng các nhu cầu phát triển xã hội thì mục đích chính của các nhà đầu tư là lợi nhuận nhất là các dự án không thuộc ngân sách nhà nước. Các chủ đầu tư thường có xu hướng vẽ ra những viễn cảnh tốt đẹp sau khi dự án hoàn thành để được cấp quyết định phê duyệt và thu hút nguồn vốn đầu tư. Họ tìm mọi cách chứng minh tiềm lực kinh tế của công ty thậm chí bằng cách đút lót, hối lộ, nhưng trên thực tế nguồn vốn của họ lại không thể đáp ứng nhu cầu xây dựng và triển khai như thiết kế, vì vậy không ít chủ đầu tư phải bán dự án, điều chỉnh quy hoạch, kéo dài tiến độ đền bù bằng nhiều lý do khác nhau để có thời gian huy động vốn. Đây cũng là nguyên nhân khiến dự án nhiều năm chỉ nằm trên trang giấy, trong khi các hộ nông dân thì “mòn mỏi đợi chờ”.

     Thứ ba là những mâu thuẫn trong nội tại người nông dân và giữa các hộ nông dân với nhau, đó chủ yếu là những mâu thuẫn trong nhận thức giữa một bên là mong muốn dự án nhanh chóng được thực hiện để chuyển đổi nghề nghiệp với một bên là những đòi hỏi về giá cả đền bù và chính sách hỗ trợ, mặc dù những đòi hỏi đó là hết sức chính đáng nhưng nó cũng là yếu tố khiến các dự án bị kéo dài vì không thống nhất được khung giá. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn giữa các hộ nông dân tranh chấp nhau về quyền sử dụng đất, cũng khiến công tác kê khai gặp nhiều khó khăn, không thể hoàn thành như dự kiến.

     Bên cạnh những mâu thuẫn nội tại, còn có những mâu thuẫn ngoại tại cũng là nguyên nhân làm biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang:

     Thứ nhất là những mâu thuẫn giữa chính quyền các cấp với chủ đầu tư, cụ thể: liên quan đến bộ máy lãnh đạo là vấn đề chính sách, mà chính sách thì thường xuyên thay đổi khiến chủ đầu tư rơi vào thế bị động; chính quyền địa phương lại thiếu năng lực công tác, không đáp ứng được các yêu cầu phối hợp trong công việc; ngược lại chủ đầu tư thì không đủ cơ sở pháp lý để chứng minh năng lực thi công công trình (ví dụ: nguồn vốn), có những biểu hiện gian lận, đối phó, thái độ thiếu hợp tác với chính quyền địa phương.

     Thứ hai là những mâu thuẫn giữa chính quyền các cấp với người nông dân, cụ thể: trong quá trình thực thi các công tác kê khai, đền bù và thu hồi đất, một số đơn vị chức năng có những biểu hiện thiếu minh bạch, không tham khảo ý kiến người dân trước khi ra quyết định hoặc điều chỉnh giá theo hướng có lợi cho chủ đầu tư, hậu quả là đến khi triển khai người dân không đồng tình và thậm chí có biểu hiện chống đối. Trong nhân dân xuất hiện những luồng dư luận bàn tán về khả năng có tiêu cực và móc ngoặc giữa bộ máy lãnh đạo với chủ đầu tư, khiến người dân nói chung và người nông dân nói riêng thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của bộ máy chính quyền các cấp, có tâm lý bất mãn và bỏ mặc.

     Thứ ba là những mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và người nông dân, cụ thể: đó là những mâu thuẫn về lợi ích giữa một bên chủ đầu tư muốn tìm mọi cách để giảm giá đất đền bù và hạn chế các khoản hỗ trợ với một bên nông dân muốn được đền bù với giá hợp lý và được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp để ổn định cuộc sống, hai bên gặp nhiều khó khăn trong quá trình thống nhất khung giá đền bù. Bên cạnh đó, với những dự án đã thống nhất được giá đền bù nhưng lại không thực hiện theo đúng cam kết về thời gian khiến người nông dân không khỏi nghi ngờ, thất vọng. 

     Thứ tư là những mâu thuẫn nhiều chiều từ phía chính quyền các cấp, chủ đầu tư và người nông dân, đây là mâu thuẫn khá phức tạp và có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế của các hộ nông dân nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp: trong khi dự án tại phường Phước Hải nhiều năm không triển khai thì các dự án ở khu vực lân cận lại xây dựng và lấp các kênh dẫn nước khiến nông dân không thể sản xuất, trước tình trạng đó tỉnh và thành phố có kế hoạch xây dựng trạm bơm tạm thời để phục vụ tưới tiêu nhưng vì kinh phí đầu tư khá lớn lại không biết khi nào dự án triển khai nên sợ rằng trạm bơm vừa xây xong đã phải phá bỏ thì lãng phí nên các hộ nông dân đành chịu thiệt. Vì ruộng bỏ hoang không sản xuất nên chủ đầu tư đã xin ý kiến chỉ đạo tiến hành đổ đất san lấp trong khi chưa triển khai đền bù, mặc dù ruộng không thể canh tác nhưng với người nông dân thà bỏ ruộng hoang còn hơn để dự án san lấp mà chưa đền bù cho dân. Chính tâm trạng chờ đợi, bất mãn đã khiến người nông dân có những hành động bạo lực, chặn đánh đoàn xe chở đất, cãi vã, gây hấn với công nhân và ban quản lý dự án. Họ còn cho rằng chính quyền địa phương đã “dung túng” cho chủ đầu tư mà không đứng ra bảo vệ quyền lợi cho nông dân.

     Như vậy, trong quá trình đô thị hóa mà trực tiếp là việc triển khai các dự án quy hoạch đô thị đã làm nảy sinh những mâu thuẫn về quyền lực, mâu thuẫn về mục tiêu, mâu thuẫn về lợi ích và mâu thuẫn về nhận thức giữa các bên cũng như trong nội tại mỗi bên liên quan. Những mâu thuẫn này đã tác động đến điều kiện canh tác của các hộ nông dân khiến hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, kéo theo là những khó khăn về việc làm và những biến đổi về thu nhập, chi tiêu, điều kiện sinh hoạt vật chất và tình trạng vay mượn cũng như mức sống. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận ở khía cạnh tích cực, thì những mâu thuẫn đó đã đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của các hộ nông dân tại địa bàn khảo sát, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập, điều kiện sinh hoạt vật chất và mức sống của gia đình nông hộ thông qua hoạt động phi nông nghiệp. Các mâu thuẫn này nếu được giải quyết một cách hợp lý sẽ giúp biến đổi một cách tích cực đời sống kinh tế của người dân cả nước nói chung và các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang nói riêng, đồng thời sẽ tạo động lực để phát triển xã hội, đó cũng là mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

     Thấu hiểu những ý nghĩa đó, hầu hết các hộ nông dân tại địa bàn khảo sát đều ủng hộ việc thực hiện các dự án quy hoạch đô thị và mong muốn nhà nước nhanh chóng thu hồi đất để họ chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, do những mâu thuẫn như đã phân tích ở trên và chính sự thụ động của các hộ nông dân trong việc tiếp cận các thông tin liên quan đến dự án nên nhận thức của hầu hết gia đình nông hộ là không đầy đủ và rõ ràng. Những bất cập trong quá trình triển khai dự án cũng khiến một bộ phận không nhỏ các hộ nông dân có thái độ bất mãn và không đồng tình với những chính sách mà dự án triển khai. Chính vì vậy, trong hai dự án đang được triển khai trên địa bàn phường Phước Hải, các hộ nông dân có xu hướng ủng hộ nhiều hơn đối với dự án do tư nhân làm chủ đầu tư vì dự án này triển khai nhanh hơn và đền bù cao hơn dự án do nhà nước làm chủ đầu tư.

     Mặc dù, phần đông các hộ nông dân chưa nhận tiền đền bù, nhưng bước đầu họ đều có sự hoạch định về kế hoạch sử dụng và định hướng chuyển đổi nghề nghiệp. Vì những người chủ hộ, đứng tên nhận tiền đền bù, phần đông đều là những người lớn tuổi nên dự định của họ khi có tiền đền bù chủ yếu là gửi tiết kiệm để dành hoặc cho con cái, một số ít xây sửa nhà và mua sắm tiện nghi gia đình, những chủ hộ trẻ tuổi hơn thì đầu tư cho kinh doanh hoặc tìm việc làm mới. Nghề nghiệp họ dự định chuyển đổi chủ yếu là buôn bán hoặc làm dịch vụ đơn thuần, rất ít trường hợp xin đi làm công nhân hay cán bộ viên chức. Đây cũng là một sự hoạch định “hợp lý” với hoàn cảnh hiện tại của các hộ nông dân có những khó khăn về trình độ học vấn, độ tuổi, khả năng thích ứng và nhất là thiếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương cũng như chủ đầu tư dự án trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp… Tuy nhiên, một đặc điểm khác biệt của người nông dân tại địa bàn khảo sát so với người nông dân trong các nghiên cứu trước đây ở các khu vực khác, đó là: khi bị thu hồi đất và gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp, người nông dân ở các khu vực khác có xu hướng di cư để tìm việc làm mới nhưng với người nông dân Phước Hải thì hầu hết đều không có dự định di cư mà vẫn quyết định ở lại địa phương. Có sự khác biệt này một mặt là do các hộ nông dân ở đây chỉ bị thu hồi đất canh tác chứ không bị thu hồi đất ở, thêm vào đó với đặc thù độ tuổi khá cao, người nông dân tại khu vực này mong muốn có cuộc sống ổn định nên không nghĩ đến việc di cư. Mặt khác, đời sống kinh tế của các hộ nông dân khi điều kiện canh tác khó khăn đã không còn phụ thuộc vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nên khi nhà nước thu hồi đất gia đình nông hộ cũng không bị ảnh hưởng quá nhiều đến mức phải di cư tìm việc. Nhưng cái chính là tất cả các hộ nông dân thuộc mẫu nghiên cứu đều có tiền đền bù sau khi bị thu hồi đất và họ tin rằng với số tiền đó họ có thể tồn tại được tại thành phố Nha Trang, một thành phố có đủ mọi điều kiện để sinh sống và phát triển mà không cần phải di cư đến bất cứ nơi nào.

     Khó khăn thực sự là những hộ nông dân không có tiền đền bù do mới chuyển từ nơi khác đến, họ không được cấp đất mà chủ yếu là thuê mướn để canh tác. Thêm vào đó, còn có những hộ gia đình sống bằng nghề buôn bán, dịch vụ chuyên chở các sản phẩm nông nghiệp. Khi nhà nước thu hồi đất, gia đình họ vừa không được đền bù lại không có bất cứ khoản hỗ trợ nào, vậy họ lấy gì để chuyển đổi nghề nghiệp khi không còn đất để canh tác, không còn rau để bán và không còn nông sản để chuyên chở? Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đã phát hiện ra nhóm khách thể này, tuy nhiên do giới hạn và mục tiêu của đề tài, nên tác giả không tìm hiểu sâu mà chỉ ghi nhận để đề xuất một hướng nghiên cứu mới.

2.5. Khuyến nghị nhằm góp phần giúp các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang cải thiện và ổn định đời sống kinh tế trong quá trình đô thị hóa.

     Đô thị hóa là quy luật tất yếu của sự phát triển xã hội, thông qua các dự án quy hoạch, không gian đô thị được mở rộng, chỉnh trang và nâng cấp về cơ sở hạ tầng, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân. Đó là những tác động tích cực và cũng là mục tiêu của quá trình đô thị hóa, tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc phát triển đất nước và đời sống của người dân nói chung, người nông dân nói riêng. Nghiên cứu đã phân tích nguyên nhân vấn đề chính là những mâu thuẫn nảy sinh giữa chính quyền các cấp, chủ đầu tư và các hộ nông dân, trong đó có cả những mâu thuẫn nội tại, vì vậy để khắc phục những tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa cần hạn chế và giải quyết những mâu thuẫn như đã đề cập ở phần trên. Qua một số tài liệu tham khảo và từ thực tế nghiên cứu, đề tài đưa ra một số khuyến nghị như sau:

     Đối với chính quyền các cấp:

    Chính quyền các cấp cần nâng cao khả năng nhận thức và trình độ quản lý nói chung cũng như trong quy hoạch và quản lý đô thị nói riêng, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, giữa thực tế nhu cầu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội với khả năng nhận thức và đáp ứng các nhu cầu đó. Cụ thể trong nghiên cứu này chính là khoảng cách giữa nhu cầu chỉnh trang, mở rộng không gian đô thị với khả năng nhận thức, quản lý và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quy hoạch, triển khai dự án.

     Các chính sách ban hành cần thiết phải được cụ thể hóa và sát với thực tế địa phương để trong quá trình triển khai không bị vướn mắc gây hiểu sai, hiểu thiếu và mất thời gian làm sáng tỏ. Quy trình giải quyết các công văn kiến nghị, tờ trình… cũng cần được rút ngắn hợp lý để tiết kiệm thời gian, tránh tình trạng chính sách trước chưa kịp triển khai thì chính sách sửa đổi lại được ban hành, gây nhập nhằn, khó khăn trong việc thực thi, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án, lãng phí thời gian, tiền bạc của nhà nước và chủ đầu tư, nhất là tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân.

     Các bộ phận có trách nhiệm trong việc thẩm định và tuyển chọn chủ đầu tư, đơn vị thi công công trình, cần nâng cao nghiệp vụ để có thể đánh giá chính xác năng lực tài chính, nguồn nhân lực, tính khả thi của dự án, các điều kiện đảm bảo để công trình thực hiện an toàn và đúng tiến độ; tránh tình trạng chủ đầu tư và đơn vị thi công sau khi nhận được công trình vì không đủ khả năng thực hiện hoặc vì lợi nhuận lại bán dự án cho các chủ đầu tư khác.

     Các chính sách liên quan đến công tác thu hồi, giải phóng mặt bằng nhất là chính sách hỗ trợ, đền bù khi thu hồi đất cần phải được thông tin và lấy ý kiến từ phía người dân, phổ biến trên các phương tiện truyền thông đại chúng, không nên có tư tưởng áp đặt nhất là tình trạng một số quan chức thỏa hiệp với chủ đầu tư nhằm thay đổi chính sách hoặc khung giá đất nhằm giảm số tiền đền bù để hưởng khoản chênh lệch.

     Các cán bộ nhà nước cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, không được có thái độ quan liêu, thiếu hợp tác, nhũng nhiễu, để gây khó cho dự án hòng nhận tiền hối lộ. Khi dự án được cấp quyết định phê duyệt, nhà nước cần thành lập các đoàn thanh tra, giám sát hoặc thuê đơn vị giám sát độc lập để kiểm tra tiến độ thực hiện, việc triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ trợ cho các hộ bị thu hồi đất, việc đảm bảo các hạng mục thi công công trình theo thiết kế ban đầu.

     Chính quyền địa phương nên tổ chức những buổi tập huấn, trao đổi, nói chuyện với người nông dân về những ảnh hưởng của việc triển khai dự án đến việc làm và đời sống của bản thân cũng như gia đình, để các hộ nông dân có sự chuẩn bị về tâm lý, ý thức được những khó khăn sẽ gặp phải, suy nghĩ, định hướng và xây dựng kế hoạch chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng cần phối hợp với các đơn vị, cơ quan chức năng tổ chức hướng nghiệp, chuyển đổi ngành nghề cho nông dân, hướng dẫn các hộ nông dân sử dụng tiền đền bù một cách hiệu quả.

      Đối với các chủ đầu tư:

     Chủ đầu tư phải xác định được khả năng tài chính, nhân lực, vật lực tương xứng với thiết kế dự án, tránh tình trạng chạy theo lợi nhuận mà làm ăn phi pháp. Cần đảm bảo thực thi các chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng, đảm bảo quyền lợi cho người dân, giúp họ ổn định cuộc sống. Được như vậy, người dân sẽ có thái độ hợp tác, ủng hộ việc thực hiện dự án, đây là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành công và góp phần đảm bảo tiến độ thi công công trình.

     Chủ đầu tư cần phối hợp với chính quyền địa phương trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghề, giải quyết việc làm cho những nông dân có đất bị thu hồi song song với kế hoạch triển khai dự án. Việc lập kế hoạch đào tạo, chuyển đổi ngành nghề phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt, kế hoạch này sau khi sơ thảo nên lấy ý kiến từ phía người dân, sau đó hoàn chỉnh và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và triển khai trước khi ra quyết định thu hồi đất hoặc chậm nhất cũng phải trình đồng thời với phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng.

     Ưu tiên nhận lao động địa phương, nhất là những người nông dân có đất bị thu hồi, những người phải chuyển đổi nghề nghiệp nhưng không được nhận các khoản hỗ trợ (những hộ thuê lại ruộng, làm dịch vụ nông nghiệp) có nhu cầu vào làm các công việc trước và sau khi hình thành khu đô thị mới. Những đối tượng này vốn có sức khỏe, trong quá trình sản xuất nông nghiệp họ vẫn làm thêm các công việc lao động phổ thông (phụ hồ, thợ mộc, thợ điện, đẩy ba gác, giúp việc nhà…) vì vậy họ vẫn có thể làm các công việc tương tự tại công trường xây dựng hoặc sau khi khu đô thị được hình thành với các nhu cầu về lao động phục vụ (bảo vệ, vệ sinh môi trường, cảnh quan). Để người nông dân và lao động địa phương đảm bảo thực hiện tốt công việc có thể tổ chức tập huấn, đào tạo ngắn ngày về yêu cầu công việc, thậm chí kiểm tra khả năng làm việc của họ trước khi ký hợp đồng lao động.

     Với đặc thù địa phương, ngoài canh tác các loại cây lương thực còn có nghề trồng hoa – cây cảnh, chủ đầu tư nên có phương án quy hoạch một khu chuyên canh loại cây trồng này để các hộ nông dân vẫn có thể tiếp tục sản xuất, vừa phục vụ nhu cầu công viên, cây xanh tạo cảnh quan cho thành phố, vừa tạo việc làm cho người nông dân. Tuy nhiên, người nông dân cũng cần được trang bị thêm về kiến thức và kỹ thuật chăm sóc các loại cây cảnh phù hợp với nhu cầu của khu đô thị mới. Ngoài ra, cũng có thể quy hoạch một khu chợ nhỏ hoặc khu vực dịch vụ giải trí, bán hàng tạp hóa, hàng ăn và ưu tiên cho các hộ nông dân đấu thầu vì ít nhiều họ đều có vốn từ khoản tiền đền bù khi bị thu hồi đất. Tuy nhiên, chính quyền địa phương nên có sự can thiệp, theo dõi, kiểm tra để tránh tiêu cực làm ảnh hưởng quyền lợi của các hộ nông dân.

     Phương án này có tính khả thi vì mục tiêu của dự án là xây dựng khu đô thị mới với các phân khu chức năng phục vụ nhu cầu cư trú, sinh hoạt, vui chơi giải trí chứ không có các nhà máy, xí nghiệp nên rất khó tạo việc làm cho người dân như các dự án quy hoạch khu công nghiệp. Vì vậy, nếu công tác phối hợp giữa chủ đầu tư, chính quyền địa phương và các hộ nông dân được đảm bảo, thì phương án này vừa góp phần chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân, tạo được việc làm cho lao động địa phương phù hợp với nguồn lực của cộng đồng về tay nghề, độ tuổi, trình độ học vấn và nguồn vốn, vừa giảm thiểu lực lượng lao động nhập cư từ nơi khác đến làm ảnh hưởng an ninh trật tự trên địa bàn, qua đó có thể hạn chế những vấn đề xã hội tiêu cực nảy sinh trong quá trình triển khai dự án.

     Đối với các hộ nông dân:

     Trong quá trình sản xuất, tùy theo điều kiện của địa phương và khu vực canh tác, các hộ nông dân nên đa dạng hóa các loại cây trồng phù hợp để tránh tình trạng sản xuất đồng loạt một loại nông sản gây tình trạng vừa thừa vừa thiếu, trong khi loại nông sản được canh tác không kịp tiêu thụ, nếu bảo quản không tốt sẽ giảm chất lượng và bị tư thương ép giá, thì các loại nông sản khác có nhu cầu lại không được sản xuất. Nếu có thể canh tác nhiều loại cây trồng, các hộ nông dân cũng tránh được những rủi ro về điều kiện sản xuất, việc luân canh giúp đất không bị cằn cỗi, giống cây không bị thoái hóa và sâu bệnh không bị kháng thuốc.

     Trong quá trình đô thị hóa, các hộ nông dân cần nâng cao khả năng thích ứng, linh hoạt chuyển đổi nghề nghiệp, phân công lao động phù hợp làm sao vừa tăng cường số lao động phi nông nghiệp có trình độ học vấn, tay nghề, công việc ổn định nhưng vẫn đảm bảo sản xuất. Nếu có nhu cầu vay vốn thì nên tìm đến những tổ chức xã hội để được tư vấn, hướng dẫn vay từ các nguồn vay chính thức, vừa được ưu đãi, lãi suất lại thấp chứ không nên vay nóng của các chủ kinh doanh cho vay lấy lãi. Có như vậy mới hạn chế được những rủi ro trong cuộc sống (ví dụ: dự án kéo dài, điều kiện sản xuất khó khăn, bị thu hồi đất, phải chuyển đổi nghề nghiệp…) và hòa nhập với những biến đổi trong xã hội hiện đại.

     Người nông dân cần chủ động tìm hiểu những thay đổi của địa phương cũng như những thông tin về các dự án đang triển khai trên địa bàn phường và các khu vực lân cận vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và quyền lợi của mỗi hộ nông dân. Tích cực tham gia các khóa tập huấn, các buổi nói chuyện do chính quyền địa phương tổ chức để có nhận thức đầy đủ về những tác động của các dự án tại thời điểm hiện tại và trong tương lai, những khó khăn sẽ gặp phải khi bị thu hồi đất và chuyển đổi nghề nghiệp. Phát huy tích cực những yếu tố sẵn có của gia đình về nguồn nhân lực, sức khỏe, kinh nghiệm sản xuất, lựa chọn phương thức và mô hình sản xuất phù hợp để vượt qua những khó khăn, trở ngại khi nhà nước thu hồi đất. Từ đó, xây dựng kế hoạch dài hạn cho tương lai thông qua đầu tư đào tạo ngành nghề cho con cháu. Không nên sử dụng lãng phí tiền đền bù vào những việc xây dựng, sửa sang nhà cửa, mua sắm các tiện nghi gia đình… mà nên sử dụng số tiền đó vào đầu tư hữu ích cho sản xuất, kinh doanh hoặc học nghề. Đó mới chính là sự đầu tư thực sự hiệu quả.

     Nói chung, để giúp các hộ nông dân có thể cải thiện và biến đổi đời sống kinh tế một cách bền vững thì cần thiết phải có những định hướng và giải pháp mang tính tổng hợp. Không thể chỉ đơn thuần các cơ quan chức năng hay một mình chủ đầu tư hoặc duy nhất người nông dân làm tốt công việc của mình mà phải có sự phối hợp hài hòa giữa các bên liên quan thì mới có được hiệu quả cao nhất. Các giải pháp đưa ra phải giải quyết tốt về mặt chính sách từ cấp vĩ mô đến vi mô, từ trung ương xuống địa phương, từ lập pháp đến hành pháp. Bên cạnh đó, phải chú trọng đến các giải pháp kỹ thuật như: chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật, thay đổi cơ cấu sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo và nâng cao tay nghề… Song song sẽ là những giải pháp tài chính, tín dụng giúp người nông dân có vốn sản xuất, sử dụng vốn một cách hiệu quả và mở rộng nguồn vốn. Cuối cùng, không loại trừ những giải pháp mang tính văn hóa, xã hội nhằm nâng cao nhận thức cho người dân nói chung và người nông dân nói riêng thông qua các kênh truyền thông, các lớp tập huấn, các buổi nói chuyện, chia sẻ… Và về mặt khoa học, cần có thêm những nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn nữa hoặc thành lập các trung tâm nghiên cứu các vấn đề đô thị hóa, vừa nghiên cứu vừa tư vấn, hỗ trợ, chia sẻ gánh nặng của các chủ đầu tư và chính quyền các cấp trong việc khảo sát, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, đồng thời đưa ra những giải pháp thiết thực và hiệu quả giúp các hộ nông dân chuyển đổi đời sống kinh tế một cách bền vững sau khi bị thu hồi đất.

3. Kết luận:

     Từ kết quả phân tích về thực trạng biến đổi, kết hợp với những đánh giá về nhận thức và thái độ của người nông dân đối với các dự án quy hoạch, những vấn đề liên quan đến đền bù giải toả và định hướng chuyển đổi nghề nghiệp, nghiên cứu còn đưa ra một số dự báo về xu hướng biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất. Từ những phân tích trên đây có thể rút ra kết luận:

      Thứ nhất là những biến đổi trong hoạt động sản xuất nông nghiệp: dưới tác động của đô thị hoá, từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp và diện tích canh tác của hầu hết các hộ nông dân đều giảm đi đáng kể, trong đó giảm mạnh nhất là số hộ và diện tích canh tác lúa, tiếp đó là rau ruộng nước và rau xanh, còn đối với hoa – cây cảnh, không những không có sự sụt giảm mà thậm chí còn tăng nhanh về số hộ tham gia sản xuất vì loại cây này vừa có giá trị kinh tế lại vừa thích hợp với điều sản xuất có nhiều khó khăn. Cụ thể là những khó khăn cả về diện tích canh tác, thuỷ lợi, phân bón – thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thời tiết, thị trường, tâm lý, sức khoẻ… Trong đó, phải nói đến những khó khăn về điều kiện thuỷ lợi, do tình hình triển khai các dự án quy hoạch đã lấp hệ thống dẫn nước tưới tiêu, việc xây dựng nhà cao tầng và khai thác nước ngầm thiếu quản lý, vấn đề ô nhiễm môi trường… đã khiến nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp bị cạn kiệt, nông dân không thể canh tác. Khó khăn thứ hai là về vấn đề tâm lý, xuất phát từ thực tế các dự án quy hoạch đô thị đã được cấp quyết định phê duyệt và thông tin đến các hộ nông dân nhưng sau nhiều năm không được triển khai, khiến người nông dân lúc nào cũng trong tâm trạng chờ đợi, lo lắng, sản xuất cầm chừng, không mạnh dạn đầu tư vào sản xuất vì sợ bị thu hồi đất. Bên cạnh hai khó khăn trên, các hộ nông dân còn gặp những khó khăn về phân bón – thuốc trừ sâu do giá cả tăng cao và không có nguồn cung cấp trực tiếp; giống cây trồng thì bị thoái hoá vì canh tác lâu năm không được đầu tư cải tạo; thời tiết diễn biến thất thường, nắng hạn về mùa khô, lũ lụt ngập úng vào mùa mưa; sức khoẻ lại có phần giảm sút do vấn đề tuổi tác… Nhìn chung, dưới tác động của đô thị hoá, các hộ nông dân Phước Hải gặp rất nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất, khiến số hộ nông dân và diện tích canh tác bị giảm đi đáng kể, từ đó đã kéo theo sự sụt giảm về sản lượng thu hoạch đối với từng loại nông sản, đặc biệt là cây lùa. Trong ba đội sản xuất thì đội sản xuất 1 có đặc thù chuyên canh về cây lúa, đội sản xuất 2 và đội sản xuất 3 vừa trồng lúa vừa kết hợp xen canh thêm các loại rau màu. Vì vậy, khi điều kiện canh tác hạn chế đội sản xuất 1 là đội có sự giảm sút nhiều nhất về số hộ nông dân, diện tích canh tác và sản lượng thu hoạch, hay nói cách khác đây là đội sản xuất có số hộ và diện tích ruộng bỏ hoang lớn nhất trong toàn khu vực khảo sát, tiếp đó là đội sản xuất 3 và thấp nhất là đội sản xuất 2.

     Thứ hai là những biến đổi về việc làm và thu nhập: các gia đình được khảo sát đều là các hộ nông dân, tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy ở cả hai giai đoạn tỷ lệ hộ thuần nông chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cộng đồng, còn lại đa phần là những hộ hỗn hợp vừa có lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp. Khi điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn chủ yếu do tác động của quá trình đô thị hóa thì số hộ thuần nông đã giảm đi đáng kể và trong số các hộ nông dân trước đây sản xuất nông nghiệp thì hiện nay đã trở thành các hộ phi nông nghiệp. Song song với sự chuyển dịch mô hình kinh tế của các hộ nông dân là sự chuyển đổi nghề nghiệp của các lao động trong gia đình nông hộ theo hướng từ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp, nhưng chủ yếu chỉ là tham gia buôn bán nhỏ hoặc làm các dịch vụ giản đơn không qua đào tạo, rất ít các trường hợp chuyển sang làm công nhân hoặc cán bộ viên chức do những hạn chế về trình độ học vấn, tay nghề và tuổi tác. Cũng bởi những khó khăn trên mà không ít lao động phải đi làm thuê, phụ việc hay nói chung là những công việc nặng nhọc, không ổn định, một số khác thì phải chấp nhận thất nghiệp vì không thể kiếm được bất cứ công việc gì. Tuy nhiên, một thực tế theo kết quả khảo sát là mặc dù điều kiện canh tác khó khăn, công ăn việc làm không ổn định nhưng thu nhập trung bình hàng năm và thu nhập bình quân đầu người của các hộ nông dân vẫn có sự gia tăng, một phần do những biến động về giá cả thị trường nhưng cái chính là từ sự gia tăng thu nhập của những lao động phi nông nghiệp trong hộ chứ không phải từ sản xuất nông nghiệp. Khi so sánh thu nhập bình quân đầu người của hộ với chuẩn nghèo ở cả hai giai đoạn thì rất nhiều các hộ nông dân đều thuộc diện hộ nghèo và mặc dù ở giai đoạn sau số hộ nghèo đã giảm đi đáng kể nhưng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao trong cộng đồng. Giữa ba đội sản xuất thì các hộ nông dân ở đội sản xuất 2 có việc làm và thu nhập ổn định nhất; còn các hộ nông dân ở đội sản xuất 3 mặc dù có sự chuyển đổi mạnh mẽ hơn về công ăn việc làm, thu nhập cũng được nâng cao hơn rất nhiều nhưng sự biến đổi này chỉ diễn ra trong phạm vị hẹp với một số hộ nhất định chứ không mang tính tổng thể trên diện rộng, đã tạo ra sự chênh lệch mức sống và phân hóa giàu nghèo một cách sâu sắc; riêng các hộ nông dân đội sản xuất 1 là ít biến đổi nhất nếu không nói là có biến đổi nhưng lại theo chiều hướng đi xuống do gặp nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất nhưng khi chuyển đổi nghề nghiệp thì công việc không ổn định và thu nhập thấp.

     Thứ ba là những biến đổi về điều kiện sinh hoạt vật chất mà cụ thể là diện tích đất thổ cư, đặc điểm nhà ở và tiện nghi gia đình. Từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, diện tích đất thổ cư của các hộ nông dân tại địa bàn khảo sát có xu hướng giảm đi đáng kể, nhất là các hộ nông dân ở đội sản xuất 1, nguyên nhân của hiện tượng này là do khi hoạt động sản xuất nông nghiệp bị hạn chế, việc làm và thu nhập không ổn định, nhiều gia đình phải bán bớt đất để trang trải sinh hoạt, một số hộ thì đầu tư xây nhà trọ, sửa nhà hoặc mua sắm tiện nghi gia đình. Nhìn chung, qua hai giai đoạn, về đặc điểm nhà ở của các hộ nông dân có phần khang trang hơn, đẹp hơn, tiện nghi gia đình cũng ngày một đầy đủ hơn, trong khu vực đã xuất hiện một số nhà cao tầng và nhiều hộ nông dân đã có thể mua sắm những tiện nghi hiện đại. Tuy nhiên, từ những phân tích về điều kiện sản xuất, thu nhập, việc làm, mặc dù không phủ nhận những đóng góp của hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng phải thừa nhận một thực tế là để có những biến đổi khả quan như trên nếu không xuất phát từ tiền bán bớt đất của gia đình thì chủ yếu cũng từ thu nhập của những thành viên hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Nhìn chung, điều kiện sinh hoạt vật chất của các hộ nông dân Phước Hải đã được cải thiện hơn trước rất nhiều, đặc biệt là diễn ra khá tương đồng giữa các hộ nông dân thuộc ba đội sản xuất chứ không có sự chênh lệch và phân hóa rõ rệt như những biến đổi nói trên. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của sự biến đổi thì lại có một số khác biệt, cụ thể: bên cạnh thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp thì với đội sản xuất 1, điều kiện sinh hoạt vật chất của các hộ nông dân ở đây được cải thiện chủ yếu là từ tiền bán đất; còn các hộ nông dân ở đội sản xuất 2 thì có sự góp chung từ thành quả canh tác nông nghiệp do điều kiện sản xuất ở đây vẫn tương đối thuận lợi hơn so với hai đội sản xuất còn lại; riêng với các hộ nông dân ở đội sản xuất 3 thì vẫn chủ yếu là do thu nhập của các lao động phi nông nghiệp.

     Thứ tư là những biến đổi về chi tiêu và vấn đề vay mượn, mặc dù không thể xác định được con số chi tiêu và vay mượn cụ thể của các hộ nông dân nhưng thông qua nội dung chi và mục đích vay mượn cũng như một số khía cạnh liên quan, nghiên cứu có thể đánh giá được về cơ bản từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2, ngoài các khoản chi cho nhu cầu thiết yếu như: ăn, mặc, sinh hoạt (điện, nước)… thì các hộ nông dân còn chi thêm cho các nhu cầu vui chơi, giải trí hay nói cách khác ở giai đoạn 1, đa số các hộ nông dân chỉ đơn thuần chi tiêu cho những nhu cầu vật chất thì đến giai đoạn 2 họ đã quan tâm nhiều hơn đến những nhu cầu tinh thần, qua đó phần nào có thể nhận định chất lượng sống của các hộ nông dân đã từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, song song với những cải thiện về điều kiện sinh hoạt và chất lượng sống thì tỷ lệ hộ nông dân phải đi vay mượn cũng gia tăng đáng kể, nguyên nhân chính cũng từ những khó khăn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều đáng lưu ý là lúc trước các hộ nông dân chủ yếu vay mượn từ các nguồn vay chính thức như ngân hàng, tổ chức xã hội thì hiện nay nguồn vay đã được mở rộng sang các đối tượng cho vay phi chính thức với lãi suất rất cao. Mục đích vay mượn cũng có sự thay đổi theo hướng trước đây vay để sản xuất nông nghiệp, kinh doanh, chữa bệnh thì đến nay ngoài những mục đích chính đáng đó một số hộ nông dân còn vay để xây sửa nhà và nhất là mua sắm tiện nghi gia đình vì họ trông chờ trong thời gian tới họ sẽ nhận được tiền đền bù từ phần đất nông nghiệp bị thu hồi. Như vây, việc nhà cửa trở nên khang trang và tiện nghi gia đình đầy đủ hơn còn xuất phát từ nguyên nhân các hộ nông dân đi vay mượn, thực tế này lại không phải là một dấu hiệu khả quan mà dự báo về một xu hướng mang tính tiêu cực là các hộ nông dân sử dụng tiền đền bù một cách phung phí, đầu tư không chính đáng đến lúc cạn kiệt sẽ trở nên nghèo túng và khó khăn hơn.

     Từ những biến đổi trên và thông qua sự tự đánh giá của các hộ nông dân, nghiên cứu có thể khái quát được những biến đổi về mức sống của các gia đình nông hộ, nhìn chung về cơ bản mức sống của các hộ nông dân ở giai đoạn sau có khá hơn giai đoạn trước biểu hiện là những biến đổi theo chiều hướng gia tăng về thu nhập, điều kiện sinh hoạt vật chất được cải thiện, nhà cửa khang trang, tiện nghi gia đình đầy đủ hơn, các khoản chi trở nên đa dạng và đảm bảo được cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần. Mặc dù, trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thì hầu như rất ít các biểu hiện biến đổi mang tính khả quan mà chủ yếu là sự giảm sút nghiêm trọng về diện tích canh tác và sản lượng thu hoạch do điều kiện canh tác khó khăn, nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ vĩ mô và theo hướng tích cực thì những hạn chế đó lại góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nghề nghiệp thì nông nghiệp sang phi nông nghiệp theo chủ trương chung của Đảng và nhà nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là làm sao để người nông dân và địa phương có thể chuyển đổi một cách bền vững chứ không phải chuyển đổi nhưng lại làm các công việc lao động phổ thông nặng nhọc và thu nhập thấp. 

Tài liệu tham khảo:

[1] Lưu Song Hà (2009), Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp, Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

[2] Nguyễn Thị Thu Hiền (2010), “Sự biến đổi đời sống kinh tế của các hộ nông dân vùng ven thành phố Nha Trang trong quá trình đô thị hóa”, Luận văn thạc sĩ ngành Xã hội học, ĐH KHXH&NV, Hồ Chí Minh.

[3] Nguyễn Minh Hòa (1999), Xã hội học những vấn đề cơ bản, Giáo dục, Hồ Chí Minh.

[4]Nguyễn Minh Hoà và nhiều tác giả (2005), Những vấn đề của phát triển không gian đô thị, ĐHQG Tp.Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

[5] Bùi Thị Ngọc Lan (2007), Việc làm của nông dân vùng đồng bằng Sông Hồng trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, Lý luận Chính trị, Hà Nội.

[6] Lê Du Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên) (2002), Ảnh hưởng của đô thị hoá đến nông thôn ngoại thành Hà Nội – thực trạng và giải pháp, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[7] Lê Thanh Sang (2008), Đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới 1979-1989 và 1989-1999, Khoa học xã hội, Hà Nội.

                                                                    Th.S Huỳnh Thị Bích Phụng

 
Khoa Khoa học XH&NV