Nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá sinh viên theo hướng tiếp cận năng lực
12/11/2019 15:58   khoasupham    66 lần

Tóm tắt: Kiểm tra, đánh giá (KTĐG) là khâu then chốt cuối cùng của quá trình dạy học, là khâu quan trọng tác động lớn đến chất lượng đào tạo. Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, việc đổi mới phương thức KTĐG là một nhu cầu tất yếu. Đánh giá dựa vào năng lực sinh viên (SV) là phương thức được các nhà giáo dục hướng tới. Bài viết trình bày tổng quan về phương pháp KTĐG theo quan điểm tiếp cận năng lực người học, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng KTĐG kết quả học tập của SV.
Từ khóa: Kiểm tra đánh giá, sinh viên, giảng viên, sinh viên.

Đặt vấn đề
Những năm gần đây, trước những thay đổi nhanh chóng về khoa học kĩ thuật cũng như tri thức, giáo dục Việt Nam đang từng bước tiếp cận với xu hướng giáo dục trên thế giới, trong khi giáo dục trên thế giới từ rất lâu đã và đang đi theo phương thức giảng dạy và đánh giá theo năng lực.
Hiện nay, giáo dục đào tạo nước ta còn tồn tại một thực tế là hầu hết cách đánh giá người học chưa được quan tâm thực hiện một cách đúng mức, nhiều khi còn tùy tiện, chủ quan, thiếu chính xác, mang tính hình thức, do đó việc đánh giá chất lượng đào tạo chưa thực chất. Cách đánh giá này đang biểu lộ nhiều hạn chế, có thể sẽ tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh về điểm số và tập trung vào việc phân loại SV thay vì đảm bảo SV đạt được năng lực hay chưa.
Thực tế trên cho thấy cần phải đổi mới phương thức KTĐG. Tiếp cận quan điểm đánh giá dựa vào năng lực đang là hướng đi hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế trong đánh giá theo phương pháp truyền thống. Khi chương trình và phương pháp giảng dạy thay đổi, phương pháp đánh giá cũng phải thay đổi theo. Vì đánh giá theo năng lực chủ yếu là đánh giá đầu ra nên quá trình đánh giá tập trung thu thập và phân tích các thông tin để có thể đánh giá được năng lực của SV so với mục tiêu đề ra. Đánh giá dựa vào năng lực chỉ công nhận SV khi nào họ thực hiện được tất cả kỹ năng của chương trình đào tạo, của môn học, bài học theo tiêu chuẩn nhất định, mục tiêu đánh giá không gạt SV ra khỏi khóa học bằng kỳ thi mà chỉ cho người học biết họ đang ở đâu.
Nếu năng lực được coi như là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ một cách kết hợp để giải quyết các vấn đề trong những bối cảnh cụ thể thì các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba yếu tố này. Để các phương pháp đánh giá theo năng lực đạt chất lượng theo yêu cầu, GV phải đánh giá bằng nhiều hình thức và thông qua nhiều công cụ khác nhau.
I. Tổng quan về phương pháp đánh giá dựa vào năng lực người học
1. Quan niệm về năng lực
Năng lực được hiểu là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó đồng thời năng lực còn được hiểu là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Cấu trúc của năng lực gồm 3 bộ phận cơ bản:
- Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó;
- Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó;
- Những điều kiện tâm lí để tổ chức và vận dụng tri thức, kĩ năng đó trong một cơ cấu thống nhất, theo một định hướng rõ ràng.
Nếu tách riêng từng bộ phận, mỗi bộ phận là một dạng chuyên biệt của năng lực: năng lực biết (năng lực ở dạng tri thức), năng lực làm (năng lực ở dạng kĩ năng), năng lực biểu cảm (năng lực ở dạng xác cảm, biểu cảm). Khi kết hợp cả 3 bộ phận lại vẫn là năng lực, nhưng có tính hoàn thiện hơn.
2. Đánh giá dựa vào năng lực
Có nhiều cách hiểu về đánh giá người học dựa vào năng lực:
- Đánh giá dựa vào năng lực là một tập hợp sự đo lường được kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học cần phải thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả (Sharon Tan, 2012).
- Đánh giá dựa vào năng lực bắt buộc phải dựa theo các tiêu chí. Đánh giá dựa vào năng lực chỉ công nhận sinh viên khi nào họ thực hiện được tất cả kỹ năng của chương trình đào tạo, của môn học, bài học theo tiêu chuẩn nhất định (Nguyễn Hữu Hợp, 2012)
- Đánh giá dựa vào năng lực là quá trình giáo viên thu thập minh chứng về năng lực, đối chiếu so sánh với chuẩn của chương trình (Hoàng Thị Tuyết, 2013)
Như vậy, có thể hiểu đánh giá dựa vào năng lực là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra, nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, thái độ mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt hiệu quả.
3. Nguyên tắc đánh giá
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, quá trình KTĐG cần dưạ trên những nguyên tắc sau đây:
1. Triết lý đánh giá: đánh giá phải vì sự tiến bộ không ngừng của người học và phải đảm bảo tính khách quan, công bằng. Đó là tính nhân văn, là nguyên tắc hàng đầu trong dạy và học.
2. Mục tiêu đánh giá: mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được;
3. Mục đích đánh giá: để có những quyết định đúng đắn, tối ưu nhất cho quá trình dạy học;
4. Chú trọng đầu ra, đánh giá đầu ra khái quát và chi tiết: Kỳ vọng rằng những đầu ra này có thể cụ thể hóa một cách rõ ràng để các nhà đánh giá, người học và những đối tượng quan tâm khác có thể hiểu nội dung được đánh giá cũng như sự mong đợi về kết quả đánh giá;
5. Xác định năng lực cốt lõi sinh viên: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp xã hội, năng lực sử dụng công nghệ….
6. Đánh giá năng lực không chỉ đánh giá các kiến thức, kỹ năng trong nhà trường mà các kiến thức và kỹ năng đó phải liên hệ với thực tế; phải gắn với bối cảnh hoạt động thực và phải có sự vận dụng sáng tạo.
4. Quy trình KTĐG
Để nâng cao năng lực học tập của SV, giảng viên (GV) cần áp dụng một quy trình KTĐG có hiệu quả. Sau đây là quy trình KTĐG hiện đại 5 bước được áp dụng rộng rãi ở các nước Mĩ, Châu Âu và nhiều nước phát triển khác:
Bước 1. Xác định công việc/đối tượng KTĐG. Ngay từ đầu môn học, GV phải tạo động lực học tập cho SV thông qua việc phổ biến thông tin cơ bản và yêu cầu của môn học, giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, đồng thời hướng dẫn, gợi ý các nội dung ở nhà, giao các bài tập… Qua đó, SV chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu của môn học.
Bước 2. Xác định phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp. Khi hoạt động tự học là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá hoạt động này và phải được công khai trong đề cương môn học để SV biết. Tùy từng nhóm ngành, môn học, đối tượng SV, GV lựa chọn các phương pháp KTĐG phù hợp và SV được biết trước về các tiêu chí để đánh giá trước khi bắt đầu công việc của họ.
Bước 3. Kiểm tra, đánh giá. Đây là khâu quan trọng nhất của quá trình. Thông qua sản phẩm của SV (những phát biểu, trả lời câu hỏi, bài tập, bài kiểm tra, bài thi…) kết hợp với kinh nghiệm, sự quan sát, phỏng vấn, GV phải có được kết quả đánh giá cuối cùng sao cho xứng đáng với năng lực thực tế của từng SV và có khả năng phát huy được năng lực tự học lâu dài của họ.
Bước 4. Cung cấp thông tin đánh giá. GV nên cung cấp thông tin KTĐG cho SV thông qua kết quả định lượng (điểm số) và định tính (những ý kiến nhận xét và xếp loại) để SV hiểu được những ưu điểm cần phát huy, những hạn chế cần khắc phục.
Bước 5. Thu nhận thông tin phản hồi và hoàn thiện KTĐG. GV và SV cần có thời gian để trao đổi với nhau về kết quả KTĐG và việc học của SV. Thông qua đó GV hiểu SV hơn, SV có thể phản hồi những thông tin cần thiết đến GV để GV hoàn thiện khâu KTĐG chính xác, tránh những sai sót không đáng có.
II. Giải pháp nâng cao chất lượng KTĐG kết quả học tập của sv
1. Thực trạng công tác KTĐG kết quả học tập của SV hiện nay
Thực tế công tác KTĐG ở các trường đại học đã phản ánh rõ nét thực trạng dạy và học hiện nay. Thực trạng này chưa khẳng định được chất lượng đào tạo đại học của nước ta đã đạt được mục tiêu đào tạo và đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong thời kì mới.
Có thể khái quát công tác KTĐG để đo lường kết quả học tập của SV ở các trường đại học như sau:
- Hình thức kiểm tra, thi: Có nhiều hình hình thức như: viết, vấn đáp, trắc nghiệm. Tuy nhiên phần lớn vẫn là thi và kiểm tra viết. Với đề thi viết, thời gian có thể từ 60 phút đến 180 phút. Thi vấn đáp có số câu hỏi nhiều hơn, nhưng thời lượng kiến thức và thời gian kiểm tra cho SV cũng eo hẹp hơn, mỗi SV được hỏi một vấn đề nhỏ trong thời gian từ 5 đến 10 phút. Trắc nghiệm có thể có từ vài chục đến trăm câu hỏi với nhiều cách khác nhau. Nhưng tất cả các hình thức và nội dung đề thi, kiểm tra trên đều nhằm mục đích kiểm tra mức độ ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ, khái niệm...mà SV đã được học. Các câu hỏi thi và kiểm tra còn nhiều trùng lắp, thiếu sáng tạo. Nhiều câu hỏi chủ yếu là tái hiện kiến thức lý thuyết, thậm chí ra đúng như đề mục trong bài học, vì vậy nhiều SV bỏ tiết không đi học nhưng vẫn thi được là nhờ học thuộc lòng, học vẹt. Các hình thức khác như làm tiểu luận, bài tập lớn... còn ít được coi trọng và đôi khi được sử dụng khá tùy tiện. Với các hình thức này, nhiều SV chủ yếu là sao chép tài liệu.
- Thời lượng môn học và thời gian thi: thông thường mỗi một học phần có từ 2 đến 4 tín chỉ, theo quy định mỗi học phần có một hoặc hai bài kiểm tra giữa kì và kết thúc học phần có một bài thi. Bài kiểm tra giữa kì chỉ chiếm trọng số từ 25 đến 30% điểm trung bình học phần đó nên SV cũng không chú trọng vào bài kiểm tra này. Bài thi được tiến hành vào cuối học kì nên trong suốt quá trình học tập SV không có động lực thúc đẩy quá trình tự học, đến cuối học kì chỉ cần dành một thời gian ngắn trong khoảng hai đến ba tuần để ôn. Không những thế, để đối phó với đề thi, nhiều SV còn học tủ, học lệch, từ đó dẫn đến việc đánh giá chưa thật khách quan, chính xác.
- Phạm vi kiến thức thi: vẫn còn tình trạng một số môn học giới hạn phạm vi quá hẹp trên một diện rất rộng kiến thức SV được học.
- Cách đánh giá kết quả học tập: còn tùy tiện, thiên về cảm tính của GV dẫn đến kết quả điểm số đánh giá khác nhau, ngay cả trong tổ bộ môn.
- Chất lượng bài thi, kiểm tra chưa phản ánh đúng năng lực người học do mục tiêu dạy học được xác định ở các bậc thấp hoặc chưa rõ ràng: Trong hoạt động dạy học, phần lớn GV mới chỉ chú ý tới mục tiêu nhận thức, còn các mục tiêu khác bị xem nhẹ hoặc không chú ý tới. Ngay trong mục tiêu nhận thức có 6 bậc GV cũng chỉ chú ý và cố gắng đạt các mục tiêu ở bậc thấp là nhớ và thông hiểu. Hay trong mục tiêu kĩ năng có 5 bậc GV cũng chỉ chú ý ở bậc thấp nhất mà chưa hướng tới các mục tiêu ở các bậc cao hơn. Thậm chí ở khâu viết mục tiêu, nhiều GV vẫn còn tỏ ra lúng túng. Mục tiêu dạy học là tuyên bố về những gì SV phải hiểu rõ, phải làm được sau bài học đó. Trong thực tế, có nhiều GV rất muốn dạy thật tốt, nhưng do họ không có ý tưởng rõ ràng về cái đích cuối cùng phải đạt được sau bài dạy nên đến cuối buổi học có nhiều SV thực hiện được, có một số SV thì không. Điểu này cho thấy năng lực viết mục tiêu bài học của nhiều GV còn hạn chế.
Có thể nói phương pháp đánh giá truyền thống vẫn có những ưu điểm của nó, tuy nhiên theo cách đánh giá này, SV ít có cơ hội để thể hiện những gì họ học được bằng nhiều cách khác nhau.
Đối với quy trình KTĐG năng lực SV, ở nước ta, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhiều GV áp dụng quy trình này chưa thật triệt để. Thông thường GV thực hiện đầy đủ 3 bước đầu, còn bước 4, 5 ít khi thực hiện. Ở bước 4, GV trả kết quả điểm số của môn học thông qua bảng điểm chung của lớp mà rất hiếm khi trả bài cho SV để họ có cơ hội xem lại bài, đọc những lời nhận xét, đánh giá của GV về kết quả học tập của mình. Hệ quả là bước đánh giá thứ 5 cũng không được GV thực hiện tốt. Ở bước này, GV rất hiếm khi trao đổi với SV về kết quả kết quả KTĐG và việc học của SV. Khi quá trình KTĐG được GV thực hiện tốt ở những bước cuối này, GV và SV sẽ hiểu nhau hơn, SV biết được thông tin về quá trình học tập của mình qua đó kịp thời điều chỉnh mình và tìm ra phương pháp học tập tốt hơn, GV cũng có thể điều chỉnh khâu KTĐG của mình trên cơ sở những phản hồi kịp thời, hợp lí của SV. Qua đó, kết quả KTĐG người học sẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, chính xác cũng như chất lượng dạy và học được nâng lên rõ rệt.
2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng KTĐG kết quả học tập của SV
Trong công tác KTĐG năng lực SV, để đánh giá kết quả học tập của SV được khách quan, công bằng và chuẩn xác, GV phải có năng lực biên soạn công cụ đánh giá, năng lực sử dụng các công cụ đánh giá, năng lực phân tích các minh chứng đánh giá, vận dụng thành thạo và linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật KTĐG.
Để khâu KTĐG kết quả học tập của SV đạt chất lượng, theo chúng tôi, cần chú trọng một số giải pháp sau:
- Công khai phương thức KTĐG. Ngay từ buổi đầu lên lớp, GV phải công khai phương thức KTĐG việc tự học của SV trong đề cương môn học. Khi hoạt động tự học là một thành phần bắt buộc trong cơ cấu thời khóa biểu thì cần phải có các hình thức KTĐG hoạt động này và phải được công khai trong đề cương môn học để SV biết.
- KTĐG việc đọc tài liệu, vở ghi chép và vở tự học của SV. GV phải có biện pháp KTĐG việc đọc tài liệu và ghi chép của SV theo từng chủ đề, từng câu hỏi đã được GV hướng dẫn, tuyệt đối không được “khoán trắng” cho SV. SV tới lớp mà chưa đọc tài liệu và chưa chuẩn bị bài theo hướng dẫn của GV phải được coi là vắng mặt. Bên cạnh vở ghi trên lớp, GV cũng yêu cầu SV phải có một cuốn vở tự học. GV sẽ dành thời gian nhận xét, sửa lỗi, trả vở tự học và công bố điểm trước khi kết thúc học phần. Từ đó hình thành cho SV cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên để đạt kết quả cao trong học tập.
- Vận dụng linh hoạt nhiều hình thức KTĐG. Mỗi hình thức có một thế mạnh và hạn chế riêng trong kiểm tra chất lượng học tập của SV. GV đánh giá SV bằng nhiều hình thức khác nhau trong đó phải bộc lộ được năng lực học tập. Tuỳ vào đặc trưng môn học, khối lượng kiến thức, đặc trưng nghề nghiệp tương lai của SV mà GV có sự lựa chọn, phối hợp vận dụng linh hoạt các hình thức phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao và công bằng.
Để thực hiện giải pháp này, GV phải nắm vững yêu cầu của các bài KTĐG. Cụ thể như:
+ Bài kiểm tra đánh giá phải phù hợp với các mục tiêu học tập và bảng trọng số chấm điểm phải đo được các mục tiêu này.
+ Bài KTĐG phải yêu cầu SV sử dụng quá trình tư duy dựa trên chương trình đào tạo cụ thể.
+ Các bài KTĐG sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau, bao gồm cả câu hỏi dạng trắc nghiệm cho sẵn phương án lựa chọn (câu hỏi đóng), và câu hỏi mở (các câu hỏi tự luận - trả lời ngắn và tự luận theo dạng bài viết) cho phép có nhiều lựa chọn trả lời hoặc SV tự thể hiện năng lực học tập của mình thông qua việc tìm ra kết quả hoặc xây dựng bài viết. Nếu đánh giá của GV chỉ dựa trên một loại hình đánh giá (ví dụ như chỉ đánh giá thông qua bài viết) thì khả năng học tập của SV chưa được đánh giá đầy đủ.
+ Các bài tập nhóm, bài tập cá nhân và bài tập kết hợp cả nhóm và cá nhân. Với loại hình bài tập kết hợp cả nhóm và cá nhân, ban đầu cả nhóm có thể cùng giải quyết vấn đề, sau đó một thành viên sẽ đại diện cho nhóm trình bày lại ý kiến của cả nhóm.
- Đánh giá toàn diện kết quả tự học của SV bằng việc đa dạng các hình thức kiểm tra. GV đánh giá thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng như bài tập cá nhân (tuần), bài tập nhóm (tháng), bài tập lớn (tiểu luận), các bài kiểm tra thường xuyên và thi cuối học kì.
- Đánh giá thường xuyên, đánh giá quá trình học của SV. Việc đánh giá không chỉ dừng lại ở việc kết thúc các học phần hay khóa học mà còn đánh giá thường xuyên, đánh giá quá trình; có sự nhận xét cụ thể và lượng hóa, định hướng sự thay đổi cho SV trong thời gian tới.
- Có các phiếu, sổ ghi chép quá trình đánh giá. Trong công tác đánh giá, GV cần có sổ theo dõi, phiếu kiểm kê, thang xếp hạng về sự tiến bộ của SV trong mỗi thời điểm cụ thể.
- Đảm bảo tính toàn diện trong nội dung thi. Nội dung thi phải đảm bảo toàn diện, gắn lý luận với thực tiễn, tránh tình trạng tái hiện đơn thuần lý thuyết và thiếu tính vận dụng sáng tạo, nhằm hướng đến mục đích vừa kiểm tra được trên diện rộng những kiến thức cơ bản mà SV cần nắm, vừa tạo điều kiện cho người học được rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ và được bộc lộ các khả năng tư duy phong phú của mình.
- Yêu cầu của đề thi viết. Đề thi viêt là hình thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, nó dễ sử dụng, thuận tiện trong cả ra đề, coi thi và chấm bài. Hạn chế của hình thức này được nhiều người nói đến là nếu đề thi và đáp án không tốt thì rất khó có thể đánh giá được khả năng giải quyết vấn đề của người học, hình thức này cũng rất dễ làm cho SV học tủ, học lệch.
Với dạng đề thi này, thay vì kiểm tra việc nhớ kiến thức hoặc nêu định nghĩa, khái niệm, GV nên yêu cầu SV phân tích, bình luận, đối chiếu và vận dụng để giải quyết vấn đề. Như vậy, SV buộc phải học để hiểu chứ không thể học vẹt.
- Sử dụng đề thi mở hoặc các hình thức khác như bài tập tiểu luận, bài tập chuyên đề.. nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tâp, hướng tới việc SV tự đánh giá năng lực của mình. Để khuyến khích SV phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tâp, tự giác tìm kiếm, nắm bắt kiến thức theo sự hướng dẫn của GV, hướng tới việc SV tự đánh giá năng lực của chính mình, bài kiểm tra đánh giá hết môn nên sử dụng đề thi mở hoặc các hình thức khác như bài tập tiểu luận, bài tập chuyên đề. Trong điều kiện hiện tại, chưa thể cấp ngay cho SV một “cái cân” để tự KTĐG, việc sử dụng đề thi mở, bài tiểu luận, bài tập chuyên đề là rất cần thiết, vì thông qua cách sử dụng đề thi mở, SV cũng tự biết mình đã học như thế nào.
- Linh hoạt khi áp dụng trọng số đánh giá điểm môn học. Trọng số đánh giá điểm môn học (dành bao nhiêu % cho điểm chuyên cần, ý thức, thái độ học tập, bao nhiêu % đánh giá giữa kì, bao nhiêu % cho đánh giá kết thúc môn học…) không nên quy định công thức chung cho các môn học mà tùy thuộc vào đặc trưng của từng môn học.
III. KẾT LUẬN
Trong giáo dục đại học theo quan điểm tiếp cận năng lực người học, việc đánh giá trong dạy học không chỉ đánh giá cái gì mà còn là đánh giá như thế nào. Đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp SV tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập của họ. Đánh giá không chính xác dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vì thế đánh giá có vai trò rất lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo. Kết quả của đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục. Phương pháp đánh giá dựa vào năng lực trong dạy học chính là phương pháp đánh giá khách quan, đúng thực tế năng lực của người học. Phương pháp đánh giá này không loại bỏ SV mà giúp SV tự tin, tự làm chủ được kiến thức mình có và biết vận dụng kiến thức được học vào trong công việc học tập cũng như trong cuộc sống đồng thời cho SV biết được mình đang ở đâu, ở vị trí nào để tiếp tục học tập và luôn cố gắng. Trong guồng máy dạy học theo xu hướng tiếp cận năng lực đang được vận hành, việc nâng cao chất lượng KTĐG kết quả học tập của SV đóng góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học đại học hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1]. Nguyễn Hữu Hợp, Đánh giá người học theo quan điểm đào tạo dựa vào năng lực, Tạp chí khoa học giáo dục, Viện nghiên cứu giáo dục Hà Nội, 2012.
[2]. Nguyễn Công Khanh, Đổi mới đánh giá kiểm tra theo hướng phát triển năng lực người học, ĐH SPHN, 2015.
[3]. Hoàng Thị Tuyết, Phát triển chương trình đại học theo cách tiếp cận năng lực, ĐHSP TPHCM, 2013. 

 

ThS. Phạm Thu Trang - GV Khoa Sư Phạm

 




Cơ sở 01
  Số 01 Nguyễn Chánh, phường Lộc Thọ, Tp. Nha Trang
  (0258) 3 523 420 - 3 523 420
Website: http://ukh.edu.vn.
Giấy phép số: 13/GP-STTTT, ngày 16/9/2019.
Chịu trách nhiệm chính: Ông Chu Đình Lộc -Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khánh Hòa.

Hiện có: 31   Khách